Kinh tế thế giới phân hóa: Việt Nam làm gì để giữ vững đà tăng trưởng?

Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới tháng 10/2026 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng 3,1% trong năm 2026 và đạt 3,4% vào năm 2027. Đằng sau những con số này là sự giằng co gay gắt giữa hai lực lượng trái chiều: tổn thất từ đứt gãy chuỗi cung ứng năng lượng và động lực bứt phá từ làn sóng đầu tư công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo. Đối với Việt Nam, bức tranh toàn cầu phân hóa này đặt ra bài toán chiến lược, đó là làm sao để đà mở rộng đầu tư và xuất khẩu thực sự chuyển hóa thành năng lực sản xuất thực tế, nâng cao thu nhập nội địa và bảo vệ nền kinh tế trước các rủi ro bên ngoài.

Tăng trưởng cao đi cùng sức ép giá cả và nguy cơ tắc nghẽn nguồn cung

Dự báo của IMF dành cho Việt Nam khá tích cực với mức tăng trưởng GDP dự kiến đạt 8,4% năm 2026 và 7,5% năm 2027. Cùng với đó, cán cân vãng lai được kỳ vọng thặng dư lần lượt 0,3% và 3,4% GDP. Tuy nhiên, đà tăng trưởng cao này cũng đi kèm áp lực lạm phát không nhỏ, với lạm phát bình quân dự báo ở mức 4,7% năm 2026 và 4,9% năm 2027.

Sự bứt phá nhanh chóng của nền kinh tế đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về nguồn cung máy móc, nguyên liệu, năng lượng và lao động. Khi dòng vốn bơm vào nền kinh tế nhưng gặp phải các điểm nghẽn về hạ tầng như thiếu điện, tắc nghẽn vận tải, khan hiếm mặt bằng công nghiệp hay thiếu hụt nhân lực kỹ thuật, dòng tiền này sẽ nhanh chóng phản ánh vào giá cả thay vì tạo ra sản lượng mới. Một khoản tín dụng được giải ngân chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi nhà máy không phải chờ đợi thủ tục hay đối mặt với tình trạng mất điện. Vì vậy, việc thúc đẩy tăng trưởng hiện nay cần tập trung giải quyết tận gốc các điểm nghẽn hạ tầng để tránh nguy cơ đẩy chi phí sản xuất lên cao.

Xuất khẩu tăng bứt phá nhưng bài toán giá trị giữ lại vẫn là thách thức lớn

Trong 9 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ghi nhận mức tăng ấn tượng 24,5%. Tuy nhiên, đằng sau con số tăng trưởng chung là sự chênh lệch lớn giữa các khu vực kinh tế. Trong khi khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tăng 29,4% và chiếm tới 80,7% tổng kim ngạch xuất khẩu thì khu vực kinh tế trong nước chỉ tăng 7,5%.

Dù các doanh nghiệp nội địa vẫn thụ hưởng lợi ích gián tiếp thông qua việc cung cấp dịch vụ logistics, bao bì, vật tư và nguyên liệu đầu vào cho khối FDI, khoảng cách này cho thấy mức độ tham gia và phần giá trị gia tăng giữ lại trong nước vẫn còn hạn chế. Một dự án FDI sẽ mang lại giá trị bền vững hơn nếu tạo điều kiện cho các nhà cung ứng Việt Nam nâng cao năng lực, giúp lực lượng kỹ sư trong nước tiếp quản các công đoạn phức tạp và hỗ trợ doanh nghiệp nội học hỏi quản trị. Để làm được điều này, chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của các tập đoàn đa quốc gia về tiêu chuẩn kỹ thuật, quy mô và thời gian thanh toán, thay vì chỉ dừng lại ở các hoạt động kết nối mang tính hình thức.

Tận dụng làn sóng công nghệ gắn liền với bài toán chi phí nguồn lực

IMF cảnh báo lợi ích từ chu kỳ công nghệ mới đang phân bố không đều giữa các quốc gia, trong khi dư địa chống đỡ các cú sốc tài chính ngày càng hẹp lại. Tại Việt Nam, việc thu hút các dự án công nghệ cao như trung tâm dữ liệu hay nhà máy bán dẫn mang lại cơ hội lớn cho ngành xây dựng, thiết bị và dịch vụ kỹ thuật. Tuy nhiên, các dự án này cũng tiêu tốn lượng điện năng khổng lồ, đòi hỏi hạ tầng kết nối chất lượng cao và nguồn vốn dài hạn.

Do đó, hiệu quả thực sự của các dự án công nghệ không chỉ đo đếm bằng số vốn đăng ký hay kim ngạch xuất khẩu mà phải tính đến số lượng việc làm chất lượng cao được tạo ra, tỷ lệ nội địa hóa, hoạt động nghiên cứu phát triển và chi phí hạ tầng mà xã hội phải gánh vác. Bên cạnh đó, việc nâng cao năng suất không chỉ nằm ở sản xuất phần cứng công nghệ cao, mà còn ở khả năng ứng dụng công nghệ để giảm tỷ lệ hao hụt trong chế biến, rút ngắn thời gian giao hàng logistics hay tiết kiệm năng lượng tại các nhà máy truyền thống.

Áp lực thanh toán ngoại tệ từ làn sóng nhập khẩu tư liệu sản xuất

Cùng với đà phục hồi sản xuất, kim ngạch nhập khẩu trong 9 tháng đầu năm 2026 đã tăng mạnh 36,7%, vượt tốc độ tăng xuất khẩu và đưa cán cân thương mại hàng hóa sang trạng thái nhập siêu 19,42 tỷ USD. Điểm đáng chú ý là nhóm tư liệu sản xuất chiếm tới 94,1% tổng giá trị nhập khẩu, phản ánh giai đoạn tích lũy máy móc và nguyên liệu cho các chu kỳ sản xuất tiếp theo.

Mặc dù nhập khẩu máy móc là bước chuẩn bị cần thiết cho năng lực tạo ra sản lượng tương lai, nghĩa vụ thanh toán ngoại tệ lại phát sinh ngay ở hiện tại. Nếu nhiều dự án cùng đẩy mạnh nhập khẩu thiết bị trong khi chưa tạo ra nguồn thu xuất khẩu tương ứng, áp lực lên tỷ giá và thanh khoản ngoại tệ ngắn hạn sẽ gia tăng đáng kể. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp, đặc biệt là các dự án thu nợ bằng đồng Việt Nam nhưng vay nợ bằng ngoại tệ, phải tính toán kỹ rủi ro biến động tỷ giá trong suốt thời gian trả nợ để tránh cái bẫy lãi suất ngoại tệ thấp nhưng tổng chi phí quy đổi lại cao.

Bảo vệ sức mua của người dân để duy trì trụ cột thị trường nội địa

Tăng trưởng kinh tế khó có thể duy trì đà bứt phá bền vững nếu chi phí sinh hoạt gia tăng làm bào mòn sức mua của người dân. Trong 9 tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân đã tăng 4,52% và lạm phát cơ bản tăng 4,26%. Áp lực giá cả tác động mạnh nhất đến các hộ gia đình có thu nhập thấp, vốn phải dành phần lớn ngân sách cho các nhu cầu thiết yếu như thực phẩm, nhà ở và đi lại.

Bài học rút ra từ nghiên cứu của IMF về khủng hoảng chi phí sinh hoạt cho thấy các chính sách hỗ trợ thu nhập có mục tiêu mang lại hiệu quả bảo vệ các nhóm yếu thế cao hơn với chi phí ngân sách thấp hơn so với việc trợ giá diện rộng. Đối với Việt Nam, việc duy trì sức mua nội địa cần dựa trên một hệ thống an sinh xã hội linh hoạt, có khả năng nhận diện và hỗ trợ kịp thời những đối tượng mới phát sinh khó khăn như người lao động bị mất việc, giảm giờ làm hoặc gặp sự cố y tế lớn, qua đó giữ vững lực cầu cho các mặt hàng và dịch vụ thiết yếu trên thị trường.

Đổi mới tư duy chính sách: Ưu tiên đầu tư cho năng lực tạo ra tăng trưởng thực chất

Từ thực tiễn kinh tế quốc tế và nội địa cho thấy, yêu cầu trọng tâm đối với chính sách kinh tế Việt Nam hiện nay là tập trung nâng cao khả năng cung ứng thực tế của nền kinh tế. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài cần gắn liền với cam kết phát triển nhà cung ứng nội địa và chuyển giao công nghệ. Đồng thời, nguồn lực ngân sách và các chính sách ưu đãi thuế cần được đánh giá dựa trên hiệu quả tạo việc làm và nguồn thu dài hạn, đi kèm cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ sau cấp phép.

Bên cạnh các giải pháp chính sách vĩ mô, việc cải thiện môi trường kinh doanh thông qua hoàn thuế giá trị gia tăng đúng hạn, đẩy nhanh thanh toán khối lượng đầu tư công hoàn thành, đơn giản hóa thủ tục hành chính và rút ngắn thời gian thông quan sẽ giúp dòng vốn của doanh nghiệp luân chuyển nhanh hơn. Những dự báo tích cực từ IMF là cơ sở quan trọng để Việt Nam tự tin vào triển vọng phát triển, song chìa khóa quyết định thành công bền vững lại nằm ở việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giải phóng các nguồn lực bị găm giữ và tạo dựng niềm tin chiến lược cho cộng đồng doanh nghiệp trong dài hạn.