Đằng sau 684 nghìn việc làm tăng thêm trong 9 tháng đầu năm 2026

Đằng sau mức tăng gần 684 nghìn người có việc làm trong chín tháng năm 2026 là sự mở rộng đáng kể của việc làm chính thức. Diễn biến này gợi mở một cách đánh giá sâu hơn về thị trường lao động, đồng thời đặt ra câu hỏi về chất lượng và khả năng tiếp cận những cơ hội mới.

Theo Cục Thống kê, số người có việc làm trong 9 tháng năm 2026 đạt 52,7 triệu, tăng 683,8 nghìn người, tương đương 1,3% so với cùng kỳ. Trong khi đó, tỷ lệ việc làm phi chính thức giảm 2 điểm phần trăm, xuống còn 61,5%, với khoảng 32,4 triệu người.

Từ những số liệu này, có thể ước tính quy mô việc làm chính thức đạt khoảng 20,3 triệu người, tăng khoảng 1,3 triệu so với cùng kỳ. Cùng thời gian đó, số người có việc làm phi chính thức giảm khoảng 630 nghìn. Như vậy, mức tăng của việc làm chính thức gần gấp đôi mức tăng ròng của tổng việc làm.

Điều đáng chú ý chính là sự thay đổi về mặt cơ cấu. Nếu chỉ nhìn vào mức tăng 1,3% của số người có việc làm, thị trường lao động dường như cải thiện khá chậm. Nhưng khi phân tách hai nhóm việc làm, bức tranh cho thấy khu vực chính thức đang mở rộng, còn khu vực phi chính thức thu hẹp về quy mô.

Cần phân biệt sự thay đổi này với số người trực tiếp chuyển sang làm việc chính thức. Số liệu tổng hợp chưa cho phép xác định từng dòng dịch chuyển. Việc làm chính thức có thể tăng nhờ tuyển dụng người mới, tiếp nhận lao động từ khu vực phi chính thức hoặc cải thiện điều kiện của những công việc đang tồn tại. Dù nguyên nhân cụ thể là gì thì kết quả này vẫn cho thấy cơ cấu việc làm đang có sự cải thiện đáng kể.

Đây là diễn biến tích cực đối với một nền kinh tế mà nhiều người phải tự tạo việc làm để bảo đảm sinh kế. Khi mất công việc ổn định, người lao động có thể nhận việc thời vụ, buôn bán nhỏ hoặc làm các công việc có thu nhập thất thường. Họ vẫn được ghi nhận là có việc làm, nhưng khả năng bảo đảm cuộc sống có thể suy giảm. Bởi vậy, số người có việc làm tăng chưa phản ánh đầy đủ mức độ cải thiện của thị trường lao động.

Tương tự, tỷ lệ thất nghiệp thấp cần được xem xét cùng với điều kiện làm việc và mức độ bảo vệ người lao động. Một người có thể làm việc nhiều giờ nhưng thu nhập vẫn thấp, thiếu bảo hiểm và không có nguồn dự phòng khi đau ốm. Trong trường hợp ấy, vấn đề kinh tế nằm ở chất lượng công việc và khả năng chống đỡ rủi ro, những khía cạnh mà tỷ lệ thất nghiệp khó thể hiện đầy đủ.

Sự mở rộng của việc làm chính thức có thể mang lại lợi ích trên nhiều phương diện. Với người lao động, quan hệ lao động rõ ràng và khả năng tiếp cận an sinh tốt hơn giúp giảm bớt sự bất định trong đời sống. Với doanh nghiệp, đội ngũ ổn định tạo điều kiện đào tạo, tích lũy kinh nghiệm và cải thiện cách tổ chức sản xuất. Những lợi ích này có thể hỗ trợ năng suất, đồng thời giúp thu nhập và sức mua của người dân bền vững hơn.

Tuy nhiên, chính thức hóa mới là một bước trong quá trình nâng cao chất lượng việc làm. Một công việc có hợp đồng vẫn có thể trả lương thấp, thiếu cơ hội phát triển hoặc đòi hỏi thời gian làm việc quá dài. Do đó, sự cải thiện về cơ cấu cần được đánh giá cùng với thu nhập thực tế, điều kiện lao động và khả năng nâng cao kỹ năng. Nếu những yếu tố này ít thay đổi, lợi ích mà người lao động nhận được sẽ còn hạn chế.

Một câu hỏi khác là những cơ hội mới đang đến với nhóm nào. Trong quý III/2026, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên ở mức 9,07%, khoảng 1,6 triệu người từ 15 đến 24 tuổi không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo.

Số liệu này cho thấy khó khăn ở giai đoạn gia nhập thị trường lao động vẫn đáng quan tâm. Việc làm chính thức có thể mở rộng nhưng người trẻ chưa chắc dễ tiếp cận, nhất là khi doanh nghiệp ưu tiên ứng viên có kinh nghiệm. Khoảng cách giữa yêu cầu tuyển dụng và năng lực của người mới đi làm có thể khiến cơ hội việc làm tồn tại song song với tình trạng thất nghiệp.

Vì vậy, chính sách hỗ trợ người trẻ cần tác động trực tiếp vào quá trình kết nối giữa đào tạo và tuyển dụng. Học nghề tại doanh nghiệp, thực tập có trả công và các chương trình đào tạo gắn với vị trí việc làm cụ thể có thể giúp người học tích lũy kinh nghiệm, đồng thời giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo ban đầu cho doanh nghiệp. Hiệu quả của những chương trình này cần được đánh giá dựa trên khả năng có việc, duy trì việc làm và cải thiện thu nhập sau đào tạo.

Đối với khu vực phi chính thức, thúc đẩy sự dịch chuyển cũng đòi hỏi giải quyết bài toán chi phí và lợi ích. Các cơ sở kinh doanh nhỏ khó duy trì lao động chính thức nếu năng suất thấp, thị trường thiếu ổn định và chi phí tuân thủ lớn. Người lao động cũng khó gắn bó với các chế độ an sinh nếu thủ tục tham gia phức tạp hoặc quyền lợi khó tiếp cận.

Do đó, hỗ trợ chính thức hóa cần gắn với nâng cao năng lực kinh doanh. Đơn giản hóa thủ tục giúp giảm gánh nặng hành chính, hỗ trợ tiếp cận thị trường, vốn và công nghệ giúp cơ sở kinh doanh có khả năng tạo ra thu nhập đủ để duy trì việc làm ổn định. Chỉ yêu cầu hoàn thiện đăng ký và giấy tờ sẽ khó tạo được thay đổi bền vững nếu nền tảng kinh tế của cơ sở kinh doanh còn yếu.

Về mặt quản lý, thay đổi cơ cấu việc làm cũng đặt ra yêu cầu cần phải theo dõi sát sao hơn thị trường lao động. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cần biết được việc làm chính thức tăng chủ yếu ở nhóm ngành nào, ở những loại hình doanh nghiệp nào và đối với nhóm lao động nào. Đồng thời, cần phân biệt phần tăng thêm nhờ mở rộng sản xuất với phần tăng nhờ cải thiện điều kiện của những công việc hiện hữu. Thông tin này giúp xác định đúng động lực đang phát huy tác dụng và những trở ngại cần tháo gỡ.

Nói tóm lại, mức tăng gần 684 nghìn người có việc làm là kết quả đáng ghi nhận. Nhưng sự mở rộng nhanh hơn của việc làm chính thức mới là yếu tố cần được chú ý hơn. Nếu xu hướng này được duy trì và đi cùng cải thiện thu nhập, điều kiện làm việc tốt hơn, thị trường lao động sẽ có nền tảng vững chắc hơn. Thách thức tiếp theo là mở rộng cơ hội ấy tới người trẻ và những lao động còn phụ thuộc vào sinh kế bấp bênh.