Tăng trưởng địa phương 9 tháng 2026: Công nghiệp bứt tốc nhưng còn nhiều sức ép cuối năm

Mười hai địa phương tăng trưởng hai chữ số trong chín tháng đầu năm 2026. Tuy nhiên, tốc độ tăng GRDP, khả năng thu hút vốn và tiến độ đầu tư đang phân hóa rõ rệt. Những địa phương mở rộng được sản xuất hiện hữu hoặc đưa công suất mới vào vận hành đạt kết quả nổi bật; các trung tâm kinh tế lớn vẫn chịu sức ép biến nguồn lực đầu tư thành hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Quảng Ninh tăng trưởng 12,54%, Hà Tĩnh 12,36%, Hải Phòng 12,08% và Bắc Ninh 11,81%, dẫn đầu các địa phương trong chín tháng năm 2026. Nhóm đạt tăng trưởng từ 10% trở lên gồm 12 địa phương, chiếm 35,6% tổng GRDP năm 2025.

Trong khi đó, TP.HCM và Hà Nội cùng chiếm 35,7% tổng GRDP nhưng chỉ tăng lần lượt 9,06% và 8,85%. Sự tương đồng về quy mô giữa hai nhóm cho thấy tăng trưởng nhanh tại các trung tâm công nghiệp đang tạo lực đẩy đáng kể, còn khả năng tăng tốc của hai đầu tàu lớn vẫn có ý nghĩa quyết định đối với kết quả chung.

Khoảng cách giữa địa phương tăng cao nhất và thấp nhất lên tới 6,95 điểm phần trăm. Đằng sau sự phân hóa này là khác biệt về cơ cấu kinh tế, thời điểm vận hành dự án và khả năng hấp thụ vốn.

Công suất sản xuất quyết định vị trí trong nhóm dẫn đầu

Các địa phương công nghiệp phía Bắc nổi bật với mức tăng sản xuất cao. IIP của Ninh Bình tăng 25%, Thái Nguyên 23,2%, Phú Thọ 21,5% và Bắc Ninh 20,2%. Quảng Ninh, Hưng Yên và Hải Phòng lần lượt tăng 18,6%, 15,4% và 15,2%. Cả bảy địa phương đều đạt tăng trưởng GRDP hai chữ số.

Sự tập trung này phản ánh lợi thế của các cụm sản xuất đã hình thành mạng lưới nhà máy, doanh nghiệp cung ứng và dịch vụ logistics. Khi đơn hàng tăng, doanh nghiệp có thể khai thác công suất hiện hữu nhanh hơn, đồng thời kéo theo nhu cầu vận chuyển, kho bãi, lao động và dịch vụ phục vụ sản xuất. Hạ tầng và hệ sinh thái doanh nghiệp giúp các địa phương hấp thụ cơ hội thị trường với tốc độ khác nhau.

Tại Bắc Ninh, chương trình hợp tác với Samsung giai đoạn 2026–2030 tiếp tục tập trung vào cải tiến sản xuất, phát triển nhà máy thông minh và nâng năng lực doanh nghiệp cung ứng. Đây là hướng tác động trực tiếp đến khả năng lan tỏa của công nghiệp: doanh nghiệp trong nước đáp ứng tốt hơn yêu cầu về chất lượng, chi phí và giao hàng sẽ giữ được phần giá trị lớn hơn trong chuỗi sản xuất.

Hà Tĩnh có một động lực khác. IIP tăng 40,2%, cao nhất bảng, kéo GRDP tăng 12,36%, vượt mục tiêu năm 10,43%. Hai tổ máy Nhiệt điện Vũng Áng II vận hành thương mại trong tháng 1 và tháng 4/2026; nhà máy xe máy điện cũng đi vào sản xuất. Các dự án bổ sung công suất ngay trong năm đã tạo bước tăng mạnh cho sản lượng công nghiệp.

Tăng trưởng từ công suất mới có thể tạo bước nhảy trong giai đoạn đầu. Khả năng duy trì sau đó phụ thuộc vào hiệu suất vận hành, thị trường đầu ra và mức phát triển của các hoạt động phụ trợ. Với Hà Tĩnh, việc mở rộng doanh nghiệp cung ứng và dịch vụ quanh các cơ sở công nghiệp lớn sẽ quyết định mức độ lan tỏa đến thu nhập và việc làm địa phương.

Nguồn vốn lớn chưa đồng nghĩa với đầu tư được thực hiện nhanh

FDI đăng ký tập trung mạnh tại một số trung tâm. TP.HCM đạt 18,23 tỷ USD, Thái Nguyên gần 8 tỷ USD, Bắc Ninh 4,72 tỷ USD và Hà Nội 4,13 tỷ USD. Bốn địa phương ghi nhận tổng cộng khoảng 35,07 tỷ USD, tương đương gần 69% tổng FDI đăng ký được ghi nhận trong bảng.

Dòng vốn tập trung phản ánh lợi thế về thị trường, hạ tầng và mạng lưới sản xuất. Tuy nhiên, tốc độ triển khai đầu tư đang tạo ra một khoảng cách đáng chú ý.

Thái Nguyên có IIP tăng 23,2% và FDI đăng ký gần 8 tỷ USD, nhưng vốn đầu tư toàn xã hội mới đạt 59,9 nghìn tỷ đồng, thấp hơn 44,4% mục tiêu năm trên 135 nghìn tỷ đồng. Các chỉ tiêu này cho thấy sản xuất hiện hữu tăng mạnh và nguồn vốn cam kết lớn, trong khi khối lượng đầu tư thực hiện còn xa mục tiêu.

TP.HCM đạt 541,7 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư toàn xã hội, bằng 53,5% mục tiêu năm. Hà Nội đạt 451,4 nghìn tỷ đồng, bằng 61,8%. Để hoàn thành kế hoạch, hai địa phương cần thực hiện thêm lần lượt 471,5 nghìn tỷ đồng và 278,6 nghìn tỷ đồng trong quý IV.

Khối lượng còn lại của TP.HCM tương đương 87% mức thực hiện chín tháng; Hà Nội gần 62%. Bình quân mỗi tháng cuối năm, TP.HCM cần đạt khoảng 157,2 nghìn tỷ đồng, gấp 2,61 lần bình quân chín tháng đầu năm. Hà Nội cần khoảng 92,9 nghìn tỷ đồng, gấp 1,85 lần.

Sức ép này nằm ở năng lực triển khai dự án. Những vướng mắc về đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư tiếp tục được TP.HCM xác định là trở ngại cần xử lý. Khi các khâu này kéo dài, vốn chưa tạo thành công trình hoặc năng lực sản xuất; tác động đến tăng trưởng và thu nhập cũng bị trì hoãn.

Chênh lệch tiến độ giữa các địa phương khá lớn. Đà Nẵng đã đạt khoảng 88,6% mục tiêu vốn đầu tư toàn xã hội, Hà Tĩnh đạt 84,1%; Lào Cai mới đạt 39%. Với các địa phương còn khối lượng lớn phải thực hiện, quý IV là phép thử về khả năng tổ chức đầu tư hơn là khả năng công bố thêm dự án.

Dịch vụ tạo đối trọng, nhưng sức mua chịu tác động của giá

Đà Nẵng tăng GRDP 10,31%, trong khi IIP tăng 10% và tổng mức bán lẻ, doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 17%. Khánh Hòa tăng GRDP 11,21%, dù IIP chỉ tăng 7,8%; bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng tăng 14,9%.

Cấu trúc này cho thấy vai trò đáng kể của dịch vụ trong tăng trưởng tại các địa phương có lợi thế du lịch và đô thị. Doanh thu lưu trú, ăn uống, vận tải và thương mại tạo nhu cầu lao động và thu nhập trên phạm vi rộng hơn các dự án công nghiệp đơn lẻ. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế phụ thuộc vào mức chi tiêu, thời gian lưu trú và khả năng cung ứng của doanh nghiệp địa phương.

Quảng Ninh có lợi thế kết hợp nhiều động lực, với công nghiệp tăng 18,6% và bán lẻ tăng 15,5%. Sự mở rộng đồng thời giúp địa phương duy trì tăng trưởng cao hơn những nơi phụ thuộc lớn vào một ngành hoặc một dự án.

Dù bán lẻ tăng từ 12% trở lên tại cả 34 địa phương, sức ép giá phân hóa mạnh. CPI Sơn La tăng 6,44%, Tuyên Quang 5,36%, Thái Nguyên 5,24% và Gia Lai 5,15%. Trong khi đó, Điện Biên và Quảng Ninh chỉ tăng 3,35% và 3,39%.

Sơn La là trường hợp đáng chú ý: GRDP tăng 5,59%, IIP chỉ tăng 0,2%, nhưng CPI cao nhất bảng. Áp lực giá tại địa phương tăng trưởng chậm cho thấy chi phí và điều kiện cung ứng có thể là những yếu tố quan trọng. Giá tăng làm giảm sức mua thực tế, đồng thời thu hẹp lợi ích mà mức tăng doanh thu danh nghĩa mang lại cho hộ gia đình.

ĐBSCL thiếu động lực đủ mạnh để kéo tăng trưởng

Cả năm địa phương ĐBSCL đều tăng GRDP dưới 10%. An Giang đạt 9,23%, Cần Thơ 7,89%, Đồng Tháp 7,44%, Cà Mau 7,37% và Vĩnh Long 7,32%. Trong khi đó, IIP vẫn tăng khoảng 11–13,6%.

Công nghiệp mở rộng nhưng chưa đủ kéo toàn bộ nền kinh tế lên mức tăng trưởng của nhóm dẫn đầu. Với vai trò lớn của nông nghiệp và chế biến nông sản, biến động giá và đầu ra ảnh hưởng đồng thời đến doanh nghiệp, thu nhập nông dân và thị trường tiêu dùng địa phương.

Xuất khẩu gạo chín tháng giảm 12,3% về kim ngạch, với lượng giảm 5,4% và đơn giá bình quân giảm khoảng 7,2%. Thị trường tháng 9 cũng ghi nhận sức ép lên giá lúa tại ĐBSCL. Doanh thu thấp hơn làm giảm phần thu nhập còn lại sau chi phí sản xuất, hạn chế khả năng chi tiêu và tái đầu tư của người trồng lúa.

Dòng FDI đăng ký của năm địa phương đạt khoảng 522 triệu USD, chỉ hơn 1% tổng mức ghi nhận trong bảng, dù nhóm chiếm 10,4% tổng GRDP. Vùng đang thiếu một động lực vốn quốc tế đủ lớn để bổ sung nhanh năng lực sản xuất và mở rộng mạng lưới doanh nghiệp.

Đầu tư chế biến, bảo quản và logistics có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh này. Những hoạt động đó giúp giảm tổn thất, kéo dài thời gian bán hàng và nâng khả năng tiếp cận thị trường, qua đó cải thiện giá trị thu về từ cùng một lượng nông sản.

Tăng trưởng địa phương chín tháng cho thấy lợi thế đang thuộc về những nơi có năng lực sản xuất sẵn sàng và dự án được vận hành đúng thời điểm. Các trung tâm lớn có nguồn vốn dồi dào nhưng cần tăng tốc triển khai; các địa phương nông nghiệp cần nâng hiệu quả chuỗi sản phẩm và mở rộng đầu tư. Chất lượng xử lý những điểm nghẽn này sẽ quyết định khả năng duy trì tăng trưởng sau giai đoạn bứt tốc hiện nay.