Nông, lâm, thủy sản: xuất khẩu phân hóa, nhập khẩu nguyên liệu tăng mạnh
Rau quả, thủy sản và gỗ đang giữ nhịp tăng trưởng xuất khẩu, trong khi cà phê, gạo và một số nông sản chịu sức ép về giá hoặc lượng tiêu thụ. Ở chiều nhập khẩu, nhu cầu nguyên liệu tăng nhanh đặt ra bài toán về phần giá trị mà doanh nghiệp và người sản xuất trong nước giữ lại.
Trong 9 tháng đầu năm 2026, mười nhóm hàng chủ lực gồm thủy sản, rau quả, điều, cà phê, chè, tiêu, gạo, sắn, cao su và gỗ đạt tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 47,85 tỷ USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ. Mức tăng này thấp hơn đáng kể tốc độ tăng 24,5% của xuất khẩu hàng hóa cả nước.
Đằng sau kết quả chung là sự phân hóa mạnh. Rau quả tăng thêm khoảng 1,15 tỷ USD, thủy sản tăng 935 triệu USD và gỗ tăng 789 triệu USD. Tổng phần tăng của ba nhóm đạt 2,87 tỷ USD, trong khi cả mười nhóm chỉ tăng ròng 2,06 tỷ USD. Cà phê, gạo, cao su và sắn cùng giảm khoảng 1,03 tỷ USD, hấp thụ một phần đáng kể thành quả của các ngành đang mở rộng thị trường.
Sự phân hóa này phản ánh ba sức ép khác nhau: biến động giá hàng hóa quốc tế, điều kiện tiếp cận thị trường và chi phí nguyên liệu nhập khẩu. Mỗi sức ép tác động vào một khâu khác nhau của chuỗi sản xuất, khiến tăng trưởng kim ngạch và hiệu quả kinh doanh có thể diễn biến trái chiều.
Giá và lượng kéo xuất khẩu theo những hướng khác nhau
Cà phê là trường hợp rõ nhất. Lượng xuất khẩu tăng 16,2%, nhưng kim ngạch giảm 6,9%, còn 6,57 tỷ USD. Đơn giá bình quân giảm gần 20%, từ khoảng 5.651 USD xuống 4.525 USD/tấn. Lượng hàng tăng thêm tạo ra khoảng 1,15 tỷ USD doanh thu nếu giữ đơn giá cùng kỳ, nhưng tác động giảm từ đơn giá lên tới 1,63 tỷ USD.
Bối cảnh quốc tế đang tạo sức ép lên khả năng giữ giá. Báo cáo tháng 8/2026 của Tổ chức Cà phê Quốc tế ghi nhận các dự báo dư cung lớn cho niên vụ 2026/27 và nguy cơ doanh nghiệp, người sản xuất Brazil đẩy nhanh bán hàng khi sức chứa kho bị hạn chế. Những diễn biến này làm tăng áp lực cạnh tranh về giá, dù rủi ro thời tiết vẫn khiến thị trường biến động.
Gạo chịu đồng thời sự suy giảm của lượng và đơn giá. Trong 9 tháng, lượng xuất khẩu giảm 5,4%, kim ngạch giảm 12,3%, còn 3,06 tỷ USD; đơn giá bình quân giảm khoảng 7,2%. Đáng chú ý, quý III ghi nhận lượng giảm 33,3% và kim ngạch giảm 35,2%. Mức giảm tập trung vào lượng hàng cho thấy trở ngại đầu ra đã trở nên rõ hơn trong những tháng gần đây.
Diễn biến này xuất hiện trong bối cảnh Philippines khởi xướng điều tra tự vệ đối với gạo nhập khẩu. Trong chuyến làm việc tháng 8/2026, Bộ Công Thương còn phản ánh một số hợp đồng đã ký nhưng khó thực hiện do thời gian cấp giấy phép nhập khẩu SPS-IC kéo dài. Với doanh nghiệp gạo, sự bất định của thủ tục nhập khẩu làm chậm giao hàng, kéo dài thời gian giữ tồn kho và tăng chi phí vốn.
Hạt tiêu lại tăng lượng 16,5% và tăng kim ngạch 11,4%, tương ứng đơn giá bình quân giảm khoảng 4,3%. Cao su và sắn có chiều biến động ngược lại: đơn giá tăng lần lượt khoảng 14,1% và 23,9%, nhưng lượng giảm 15,6% và 21,9%, khiến kim ngạch vẫn đi xuống. Giá tốt hơn chưa đủ bù sự thu hẹp của lượng xuất khẩu.
Như vậy, sự suy giảm nguồn thu của một số nông sản không có cùng nguyên nhân. Cà phê chịu tác động lớn từ đơn giá; gạo chịu cả giá và lượng; cao su, sắn gặp sức ép chủ yếu ở lượng hàng. Một chính sách khuyến khích tăng sản lượng đồng loạt sẽ khó xử lý đúng những điểm nghẽn này.
Rau quả, thủy sản và gỗ giữ vai trò bù đắp
Rau quả đạt 7,28 tỷ USD, tăng 18,8%, đóng góp lớn nhất vào phần tăng kim ngạch của mười nhóm hàng. Tuy nhiên, tháng 9 giảm gần 14% so với cùng kỳ, dù quý III vẫn tăng 18,2%. Đà tăng lũy kế vì thế đi cùng biến động lớn theo tháng, khiến việc bảo đảm tiến độ thu hoạch, kiểm nghiệm và thông quan có ý nghĩa trực tiếp đối với doanh thu.
Năng lực đáp ứng tiêu chuẩn thị trường đang được củng cố. Theo danh sách cập nhật đến cuối tháng 6/2026, Việt Nam có 37 cơ sở kiểm nghiệm được Hải quan Trung Quốc chấp nhận đối với chỉ tiêu cadimi và Vàng O, chủ yếu phục vụ sầu riêng và mít. Mạng lưới kiểm nghiệm giúp giảm thời gian hoàn thiện hồ sơ và rủi ro hàng bị ách lại khi vào vụ thu hoạch. Với trái cây tươi, đây là một phần của năng lực cạnh tranh vì thời gian chờ đợi làm giảm chất lượng và sức thương lượng của người bán.
Thủy sản đạt 9,10 tỷ USD, tăng 11,5%, trong khi nhập khẩu giảm 1,6%. Thặng dư thương mại của nhóm tăng từ khoảng 5,74 tỷ USD lên 6,72 tỷ USD, cải thiện gần 974 triệu USD.
Ở phía sản xuất, sản lượng nuôi trồng tăng 5,9%, cao hơn nhiều mức tăng 0,9% của khai thác. Nguồn cung nuôi trồng đang tạo nền tảng thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tổ chức nguyên liệu và đáp ứng yêu cầu của khách hàng. VASEP cũng ghi nhận trong những tháng đầu năm, động lực tăng trưởng đến chủ yếu từ Trung Quốc, ASEAN và các thị trường CPTPP, trong khi Mỹ và EU còn nhiều thách thức. Việc mở rộng những thị trường này giúp ngành phân tán rủi ro đầu ra.
Gỗ và sản phẩm gỗ đạt 13,30 tỷ USD, tăng 6,3%; nhập khẩu đạt 2,76 tỷ USD, tăng 16,2%. Thặng dư vẫn lớn, khoảng 10,54 tỷ USD, nhưng chỉ tăng thêm 403 triệu USD vì nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu.
Ngành gỗ đồng thời chịu bất định về thuế quan. Đầu năm 2026, Hoa Kỳ hoãn thời điểm tăng thuế theo Mục 232 đối với một số sản phẩm gỗ thành phẩm đến đầu năm 2027. Quyết định này tạo thêm thời gian duy trì đơn hàng và điều chỉnh thị trường, nhưng rủi ro thuế tiếp tục ảnh hưởng đến việc thương lượng giá và ký hợp đồng dài hạn.
Nhập khẩu nguyên liệu tăng nhanh, sức ép đi vào biên lợi nhuận
Ngành điều thể hiện rõ sự bất lợi giữa giá đầu vào và đầu ra. Xuất khẩu đạt 3,84 tỷ USD, tăng 1,9%, còn nhập khẩu đạt 3,89 tỷ USD, tăng 4,7%. Cán cân thương mại mặt hàng này từ thặng dư khoảng 54 triệu USD thành thâm hụt gần 49 triệu USD.
Đơn giá xuất khẩu bình quân tăng khoảng 4,1%, trong khi đơn giá nhập khẩu tăng 8,4%. Nguyên liệu nhập khẩu tăng giá nhanh gấp đôi mức tăng của hàng bán ra, gây sức ép lên biên chế biến. Khả năng mua nguyên liệu đúng thời điểm, kiểm soát tỷ lệ thu hồi và quản trị tồn kho vì thế ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh doanh.
Ở chuỗi chăn nuôi, nhập khẩu ngô, lúa mì, đậu tương và thức ăn gia súc đạt khoảng 8,97 tỷ USD, tăng 18,6%, tương đương tăng thêm 1,41 tỷ USD. Riêng ba mặt hàng ngô, lúa mì và đậu tương tăng kim ngạch gần 35,9%; lượng nhập khẩu lần lượt tăng 28,1%, 36,6% và 44,7%.
Mức tăng này cao hơn đáng kể tăng trưởng sản lượng thịt lợn 4,4% và gia cầm 5,3%. Nhập khẩu có thể phục vụ nhiều mục đích và phản ánh cả điều chỉnh tồn kho, nhưng quy mô dòng nguyên liệu cho thấy chi phí sản xuất thực phẩm trong nước vẫn nhạy cảm với thị trường bên ngoài.
Rủi ro ấy tăng lên khi FAO ghi nhận giá ngũ cốc quốc tế tháng 9 tăng 5,1% so với tháng trước và 17,2% so với cùng kỳ. Giá lúa mì tăng trong bối cảnh hạn chế logistics ở Biển Đen, còn bất định vận tải và năng lượng tiếp tục gây sức ép lên thị trường nguyên liệu. Các đợt tăng giá mới có thể dần đi vào giá thành thức ăn và chi phí chăn nuôi qua những hợp đồng nhập khẩu tiếp theo.
Bức tranh chín tháng cho thấy xuất khẩu nông, lâm, thủy sản vẫn có những ngành đủ sức mở rộng nguồn thu, nhưng lợi ích phân bổ rất khác nhau. Rau quả và thủy sản tăng trưởng khá; cà phê mất doanh thu trên mỗi tấn hàng; gạo gặp trở ngại đầu ra; điều chịu chênh lệch bất lợi giữa giá mua và giá bán. Khả năng giữ giá trị trong nước phụ thuộc ngày càng nhiều vào chất lượng nguyên liệu, hiệu quả chế biến, thời gian giao hàng và mức độ ổn định của thị trường, bên cạnh quy mô kim ngạch.
