GDP 9 tháng năm 2026: Tăng trưởng nhanh, sức lan tỏa còn phân hóa
1. Thực trạng
GDP 9 tháng đầu năm 2026 tăng 9,01%, trong đó quý III tăng 9,95%, cao hơn quý II 1,14 điểm phần trăm. Đà tăng trưởng được củng cố bởi khu vực công nghiệp, đầu tư và tiêu dùng, song tập trung rõ ở một số nhóm ngành sản xuất và khu vực doanh nghiệp.
Công nghiệp và xây dựng đóng góp 4,16 điểm phần trăm vào tăng trưởng GDP 9 tháng, dịch vụ đóng góp 3,78 điểm, nông nghiệp đóng góp 0,45 điểm. Riêng chế biến, chế tạo tạo ra khoảng 2,84 điểm phần trăm, tức gần một phần ba mức tăng toàn nền kinh tế. Công nghiệp tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt, với thương mại, vận tải và tài chính hỗ trợ hoạt động sản xuất và lưu thông.
Quý III ghi nhận sự tăng tốc của chế biến, chế tạo, xây dựng và điện, lần lượt tăng 12,28%, 14,22% và 13,13%. Tuy nhiên, phần tăng tốc của dịch vụ có yếu tố đặc thù. Nhóm quản lý nhà nước, quốc phòng, tổ chức chính trị – xã hội và bảo đảm xã hội bắt buộc đảo từ giảm 9,48% trong quý II sang tăng 4,68% trong quý III. Thay đổi đóng góp của nhóm này tương đương khoảng 0,31 điểm phần trăm, chiếm 27% mức tăng tốc GDP giữa hai quý. Sức bật của khu vực sản xuất và kinh doanh thấp hơn mức cải thiện thể hiện ở chỉ số GDP tổng hợp.
2. Động lực tăng trưởng và những sức ép đang hình thành
Sản xuất công nghiệp mở rộng có đầu ra, nhưng tăng trưởng tập trung vào ngành điện tử và thiết bị. IIP chế biến, chế tạo 9 tháng tăng 12,93%, gần tương đương mức tăng 12,80% của chỉ số tiêu thụ. Sản lượng tăng nhìn chung được thị trường hấp thụ. Tuy nhiên, tiêu thụ điện tử, máy tính và sản phẩm quang học tăng 17,59%, thiết bị điện tăng 18,85%, trong khi da và sản phẩm liên quan chỉ tăng 1,82%, sản xuất xe có động cơ tăng 4,84%. Sự phân hóa này cho thấy sức tăng công nghiệp chưa lan đều giữa các ngành.
Riêng tháng 9, sản xuất chế biến, chế tạo tăng 4,29% so với tháng trước, tiêu thụ giảm 0,46% và tồn kho tăng 4,28%. Nếu đầu ra cuối năm không theo kịp tốc độ sản xuất, vốn lưu động sẽ bị giữ trong tồn kho, làm tăng nhu cầu tài trợ và sức ép lên dòng tiền doanh nghiệp.
Xuất khẩu tăng mạnh nhưng động lực chủ yếu vẫn thuộc khu vực FDI và đi kèm nhập khẩu lớn. Kim ngạch xuất khẩu đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,48%. Khu vực FDI chiếm 80,68% kim ngạch và tạo ra khoảng 93% phần xuất khẩu tăng thêm, xuất khẩu của khu vực trong nước chỉ tăng 7,48%. Điện tử, máy tính và linh kiện tăng 59,55%, trong khi dệt may và giày dép chỉ tăng lần lượt 1,91% và 1,40%. Cơ cấu này giúp giải thích vì sao xuất khẩu tăng rất nhanh nhưng sức cải thiện ở những ngành sử dụng nhiều lao động còn hạn chế.
Nhập khẩu tăng 36,65%, đạt 453,71 tỷ USD. Cán cân thương mại hàng hóa chuyển từ xuất siêu khoảng 16,87 tỷ USD cùng kỳ năm trước sang nhập siêu 19,42 tỷ USD. Nhập khẩu điện tử, máy tính và linh kiện tăng 71,69%, máy móc và thiết bị tăng 21,93%, cho thấy nhu cầu đầu vào và mở rộng năng lực sản xuất. Đồng thời, mức phụ thuộc lớn vào đầu vào nhập khẩu khiến một phần đáng kể sức tăng của tổng cầu được đáp ứng từ bên ngoài. Giá trị gia tăng giữ lại trong nước phụ thuộc vào mức tham gia của doanh nghiệp nội địa vào các chuỗi đang mở rộng.
Thâm hụt dịch vụ đạt 8,21 tỷ USD, trong đó nhập khẩu dịch vụ vận tải tăng 35,12%. Hoạt động thương mại tạo thêm nhu cầu logistics, nhưng một phần thu nhập từ nhu cầu này tiếp tục thuộc về nhà cung cấp nước ngoài.
Đầu tư tăng trên cả ba khu vực, với tư nhân đóng góp lớn nhất vào phần vốn tăng thêm. Vốn đầu tư toàn xã hội đạt 3.109,63 nghìn tỷ đồng, tăng 15,07% theo giá hiện hành. Khu vực ngoài Nhà nước chiếm 53,04% tổng vốn và tạo ra gần một nửa phần vốn tăng thêm; khu vực Nhà nước đóng góp khoảng một phần ba. Tăng trưởng đầu tư năm nay có nền tảng rộng hơn việc mở rộng chi tiêu ngân sách.
Đầu tư ngân sách vẫn là bộ phận tăng tốc rõ trong quý III, tăng 22,84%, góp phần thúc đẩy xây dựng và các ngành cung ứng liên quan. Tác động trước mắt thể hiện ở khối lượng thi công và nhu cầu vật liệu, vận tải, lao động. Sức tăng dài hạn phụ thuộc vào tiến độ hoàn thành và khả năng khai thác công trình. Khi xây dựng tăng nhanh hơn đáng kể hoạt động kinh doanh bất động sản, hiệu quả của dòng vốn hình thành tài sản càng phụ thuộc vào khả năng tạo dòng tiền sau đầu tư.
Tiêu dùng cải thiện, nhưng giá cả chiếm phần đáng kể trong tăng doanh thu dịch vụ. Tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,41%; sau khi điều chỉnh sơ bộ bằng CPI, sức tăng thực vào khoảng 8,51%. Cầu trong nước đang hỗ trợ sản xuất và thương mại, dù tốc độ mở rộng thấp hơn mức tăng doanh thu danh nghĩa.
Doanh thu lưu trú, ăn uống tăng 16,72%, trong khi giá trị gia tăng thực của ngành tăng 8,83% và giá sản xuất dịch vụ tăng 7,11%. Khách quốc tế tăng 14,55% tạo thêm cầu, nhưng chi phí và giá bán tăng cũng góp phần lớn vào doanh thu. Với hộ gia đình, giá dịch vụ thiết yếu tăng nhanh làm thu hẹp phần thu nhập có thể dành cho các khoản chi khác.
Sức tăng của đầu tư và sản lượng chưa lan tỏa tương ứng sang gia nhập thị trường và việc làm. Số doanh nghiệp thành lập mới tăng 3,23%, vốn đăng ký tăng 32,66%, nhưng lao động đăng ký giảm 16,12%. Số doanh nghiệp quay lại hoạt động giảm 14%; tổng số thành lập mới và quay lại giảm 3,20%. Bức tranh này cho thấy mở rộng quy mô vốn diễn ra mạnh hơn mở rộng số lượng doanh nghiệp và nhu cầu tuyển dụng ban đầu.
Lao động trong doanh nghiệp chế biến, chế tạo tại ngày 1/9 tăng 3,58% so với cùng thời điểm năm trước, thấp hơn đáng kể sức tăng sản xuất. Doanh nghiệp có thể đang khai thác công suất sẵn có, tăng giờ làm hoặc mở rộng ở các ngành ít sử dụng lao động hơn. Trong quý III, thất nghiệp thanh niên tăng lên 9,07%, còn việc làm phi chính thức chiếm 60,64%. Khả năng chuyển tăng trưởng sản lượng thành cơ hội việc làm ổn định vì vậy vẫn còn hạn chế.
3. Một số giải pháp
Trọng tâm điều hành những tháng cuối năm 2026 này là nâng cao khả năng hấp thụ vốn và tăng tỷ lệ giá trị gia tăng giữ lại cho nền kinh tế. Với công nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng điện tử, thiết bị và máy móc cần tập trung vào năng lực kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng giao hàng. Phát triển logistics và dịch vụ công nghiệp trong nước sẽ giúp tận dụng nhu cầu phát sinh từ thương mại, đồng thời giảm phần thu nhập chi trả ra bên ngoài.
Với đầu tư, cần ưu tiên hoàn thành các công trình có thể sớm đưa vào sử dụng và giải quyết điểm nghẽn sản xuất. Vốn đầu tư ngân sách 9 tháng mới đạt 59,90% kế hoạch. Phần kế hoạch còn lại tương đương khoảng 147,69 nghìn tỷ đồng mỗi tháng trong quý IV, cao hơn gần 30% mức thực hiện tháng 9. Áp lực này đòi hỏi phải xử lý quyết liệt vấn đề giải phóng mặt bằng, cung ứng nguyên vật liệu và nâng cao năng lực thi công. Việc dồn vốn khi các điều kiện thực hiện chưa đáp ứng có thể làm tăng chi phí và giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (tăng hệ số ICOR).
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nên tập trung vào dòng tiền và đầu ra, tìm kiếm thị trường, nhất là những ngành có tiêu thụ yếu hoặc tồn kho tăng. Thanh toán đúng hạn, hoàn thuế kịp thời cho doanh nghiệp và cấp vốn dựa trên đơn hàng sẽ tác động trực tiếp hơn đến hoạt động sản xuất. Chính sách việc làm cần gắn đào tạo với nhu cầu tuyển dụng của các chuỗi sản xuất đang mở rộng, giảm khoảng cách giữa tăng trưởng công nghiệp và cơ hội việc làm của người trẻ.
Nhập siêu tăng mạnh cùng sức ép giá nhiên liệu làm thu hẹp dư địa kích thích cầu trên diện rộng. Điều hành cuối năm cần bảo vệ động lực sản xuất, nâng hiệu quả thực hiện đầu tư và mở rộng năng lực cung ứng. Khả năng duy trì mức tăng trưởng cao sẽ phụ thuộc vào phần giá trị gia tăng nội địa, hiệu suất sử dụng vốn và thu nhập mà khu vực doanh nghiệp tạo ra.
