Khách Nga tạo gần một phần ba mức tăng du lịch quốc tế
Việt Nam đón 17,68 triệu lượt khách quốc tế trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng 14,55% so với cùng kỳ. Động lực tăng trưởng thay đổi rõ về địa lý. Châu Âu tạo ra gần 47% lượng khách tăng thêm, vượt đóng góp của toàn bộ châu Á. Riêng Nga đóng góp hơn 31%, trong khi tổng khách Trung Quốc và Hàn Quốc giảm.
Sự thay đổi này khiến tăng trưởng toàn ngành đi cùng sự phân hóa giữa doanh nghiệp và điểm đến. Những cơ sở phụ thuộc vào các thị trường truyền thống có thể chịu sức ép công suất, còn những nơi tiếp cận được dòng khách mới có điều kiện mở rộng doanh thu.
Châu Âu tăng vai trò, Nga quyết định phần lớn sức tăng
Trong khoảng 2,25 triệu lượt khách quốc tế tăng thêm, châu Âu đóng góp 1,05 triệu lượt, tương đương 46,78%. Châu Á bổ sung khoảng 929 nghìn lượt, chiếm 41,39%, dù quy mô khách lớn hơn châu Âu hơn bốn lần.
Tỷ trọng khách châu Âu tăng từ 12,36% lên 16,73%, còn châu Á giảm từ 79,31% xuống 74,49%. Cơ cấu cầu đang thay đổi đủ lớn để ảnh hưởng đến sản phẩm, kênh phân phối và cách tổ chức phục vụ của ngành.
Nga là nhân tố nổi bật nhất. Lượng khách tăng từ khoảng 435 nghìn lên 1,13 triệu lượt, bổ sung gần 699 nghìn lượt. Thị trường này tạo ra 66,55% phần khách châu Âu tăng thêm và 31,13% phần khách quốc tế tăng thêm. Tỷ trọng Nga trong tổng lượng khách tăng từ 2,82% lên 6,41%.
Nếu tách Nga khỏi phép so sánh, lượng khách từ các thị trường còn lại tăng khoảng 10,31%, thấp hơn mức tăng chung 14,55%. Châu Âu ngoài Nga tăng 23,84%, cho thấy sự mở rộng vẫn diễn ra trên nhiều thị trường, nhưng sức tăng tuyệt đối tập trung mạnh vào Nga.
Du lịch vì thế đang đa dạng hóa nguồn khách, đồng thời hình thành mức phụ thuộc đáng kể vào một thị trường trong phần tăng trưởng mới. Biến động của thị trường Nga sẽ ảnh hưởng lớn hơn đến tốc độ tăng khách trong những kỳ tiếp theo.
Trung Quốc và Hàn Quốc mất gần 6,6 điểm phần trăm tỷ trọng
Khách Trung Quốc tăng khoảng 59 nghìn lượt, trong khi khách Hàn Quốc giảm gần 179 nghìn lượt. Tổng hai thị trường giảm khoảng 119 nghìn lượt.
Tỷ trọng kết hợp của Trung Quốc và Hàn Quốc giảm từ 46,21% xuống 39,66%, tương đương 6,55 điểm phần trăm. Các thị trường khác phải bổ sung khoảng 2,36 triệu lượt để bù phần giảm này và tạo ra mức tăng chung của ngành.
Đây là nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự khác biệt giữa tăng trưởng du lịch toàn quốc và kết quả kinh doanh tại từng điểm đến. Hệ thống lưu trú, nhà hàng và lữ hành đã chuyên môn hóa theo khách Hàn Quốc không dễ chuyển ngay sang phục vụ nguồn khách khác. Kênh bán hàng, lịch trình, ngôn ngữ và mạng lưới đối tác đều cần thời gian điều chỉnh.
Ngược lại, những doanh nghiệp có sẵn kết nối với thị trường Nga và châu Âu có thể hưởng lợi nhanh hơn. Sức tăng doanh thu vì vậy phụ thuộc vào khả năng tiếp cận dòng khách mới, thay vì chỉ vào quy mô cơ sở vật chất.
Khách đường bộ tạo hơn một phần tư lượng tăng thêm
Khách đường bộ đạt 2,73 triệu lượt, tăng 29,93%, bổ sung khoảng 629 nghìn lượt. Nhóm này chiếm 15,43% tổng lượng khách nhưng tạo ra gần 28% phần tăng thêm. Tỷ trọng khách đường bộ tăng khoảng 1,82 điểm phần trăm so với cùng kỳ.
Đường hàng không vẫn tạo ra gần 70% lượng khách tăng thêm, nhưng tỷ trọng trong tổng khách giảm từ 85,16% xuống 83,19%. Cơ cấu vận chuyển cho thấy tăng trưởng đang diễn ra đồng thời ở các thị trường xa và dòng khách khu vực.
Hai dòng khách này tạo ra nhu cầu khác nhau về kết nối, lịch trình và dịch vụ. Sự mở rộng của đường bộ có thể phân bổ thêm cầu về các địa bàn cửa khẩu và tuyến liên quốc gia, trong khi khách thị trường xa phụ thuộc nhiều hơn vào mạng đường bay và năng lực tổ chức sản phẩm tại điểm đến.
Nguồn thu tăng chủ yếu nhờ lượng khách
Xuất khẩu dịch vụ du lịch đạt 13,06 tỷ USD, tăng 17,45%. Nguồn thu tương ứng trên mỗi lượt khách quốc tế tăng từ khoảng 720 USD lên 739 USD, tức tăng 2,53%. Phần lớn sức tăng nguồn thu vẫn đến từ lượng khách, còn mức thu trên lượt khách cải thiện vừa phải.
Trong lưu trú và ăn uống, doanh thu tăng 16,72%, giá trị gia tăng thực tăng 8,83% và giá sản xuất dịch vụ tăng 7,11%. Điều chỉnh sơ bộ doanh thu theo giá cho mức tăng khoảng 8,97%, khá sát mức tăng giá trị gia tăng thực. Chênh lệch giữa doanh thu danh nghĩa và hoạt động thực phản ánh vai trò đáng kể của giá cả.
Điều này đặt lợi nhuận doanh nghiệp vào thế phụ thuộc lớn hơn vào công suất và kiểm soát chi phí. Tăng giá bán giúp bù chi phí, nhưng khả năng tạo thêm lợi nhuận bền vững gắn với số đêm lưu trú, mức sử dụng dịch vụ và hiệu quả vận hành.
Cán cân du lịch cải thiện mạnh
Thu từ xuất khẩu dịch vụ du lịch tăng khoảng 1,94 tỷ USD, còn chi nhập khẩu dịch vụ du lịch giảm khoảng 240 triệu USD. Chênh lệch thu – chi tăng từ khoảng 30 triệu USD lên 2,21 tỷ USD, cải thiện gần 2,18 tỷ USD.
Khoảng 89% phần cải thiện đến từ nguồn thu khách quốc tế tăng. Du lịch đang tạo đóng góp ngoại tệ rõ hơn, dù toàn bộ cán cân dịch vụ vẫn thâm hụt 8,21 tỷ USD do các khoản chi lớn ở những lĩnh vực khác.
Bức tranh 9 tháng cho thấy ba thay đổi đồng thời. Nguồn khách tăng thêm nghiêng mạnh về châu Âu, đặc biệt là Nga; khách đường bộ mở rộng vai trò; nguồn thu ngoại tệ cải thiện chủ yếu nhờ tăng lượng khách. Sức tăng toàn ngành khá rõ, nhưng khả năng chuyển thành lợi nhuận và thu nhập tại từng điểm đến phụ thuộc vào mức thích ứng với cơ cấu khách mới và hiệu quả khai thác chi tiêu.
