Đầu tư công tăng tốc, áp lực cuối năm vẫn lớn

Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước 9 tháng đầu năm 2026 đạt 661,81 nghìn tỷ đồng, tăng 19,03% so với cùng kỳ. Riêng quý III tăng 22,84%, cao hơn mức 18,73% của quý II và 11,23% của quý I. Đầu tư ngân sách đang tăng tốc rõ, góp phần thúc đẩy xây dựng và các hoạt động cung ứng liên quan.

Tuy nhiên, khối lượng thực hiện mới đạt 59,90% kế hoạch năm. Sau ba phần tư thời gian, khoảng 40% kế hoạch vẫn còn ở phía trước. Đây là sức ép lớn đối với tổ chức thực hiện, đồng thời đặt ra câu hỏi về khả năng chuyển nguồn vốn đã bố trí thành công trình và năng lực cung ứng.

Tăng nhanh so với năm trước nhưng vẫn chậm so với kế hoạch

Hai chỉ tiêu phản ánh hai mặt của tiến độ đầu tư. Mức tăng 19,03% cho thấy khối lượng thực hiện cao hơn cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ 59,90% cho thấy quy mô kế hoạch lớn hơn đáng kể khả năng thực hiện đến hết tháng 9.

Từ số vốn và tỷ lệ thực hiện, kế hoạch năm tương ứng khoảng 1.105 nghìn tỷ đồng. Phần còn lại khoảng 443 nghìn tỷ đồng, đòi hỏi bình quân gần 148 nghìn tỷ đồng mỗi tháng trong quý IV nếu hoàn thành toàn bộ kế hoạch.

Mức này cao hơn gần 30% so với khối lượng thực hiện tháng 9 là 113,91 nghìn tỷ đồng và cao hơn khoảng 40% so với bình quân tháng của quý III. Những tháng cuối năm thường có khối lượng nghiệm thu và thanh toán lớn, nhưng khoảng cách hiện tại vẫn đòi hỏi một bước tăng đáng kể về năng lực triển khai.

Áp lực hoàn thành vì vậy tập trung ở khối lượng công việc thực tế – mặt bằng, vật liệu, thiết bị, nhân lực và khả năng phối hợp giữa các đơn vị. Khi những điều kiện này chưa sẵn sàng, nguồn vốn bố trí lớn khó chuyển thành sản lượng xây dựng tương ứng.

Động lực tăng chủ yếu nằm ở địa phương

Vốn đầu tư ngân sách do địa phương thực hiện đạt 564,77 nghìn tỷ đồng, chiếm khoảng 85% tổng số và tăng 20,93%. Vốn do Trung ương thực hiện đạt 97,04 nghìn tỷ đồng, tăng 9,08%.

Sự khác biệt rõ hơn trong quý III. Vốn địa phương tăng 26,15%, còn vốn Trung ương tăng 7,42%. Phần lớn sức tăng tốc của đầu tư ngân sách đang nằm ở địa phương.

Cơ cấu này làm cho năng lực chuẩn bị và triển khai dự án tại địa phương trở thành yếu tố quyết định tiến độ chung. Khả năng xử lý mặt bằng, tổ chức đấu thầu, bảo đảm nguồn vật liệu và thanh toán khối lượng hoàn thành có thể tạo ra khác biệt lớn giữa những nơi cùng được bố trí vốn.

Đồng thời, tăng trưởng đầu tư tổng hợp có thể che khuất tình trạng chậm của một số dự án quan trọng. Công trình có tính kết nối thường cần nhiều hạng mục hoàn thành đồng bộ. Một đoạn tuyến hoặc đầu mối chưa hoàn tất có thể làm giảm hiệu quả khai thác của cả hệ thống, ngay cả khi tổng vốn thực hiện vẫn tăng cao.

Tác động đến GDP đến sớm hơn lợi ích về năng suất

Xây dựng tăng 14,22% trong quý III, cao hơn mức 12,63% của quý II. Diễn biến này phù hợp với sự tăng tốc của đầu tư ngân sách. Thi công tạo thêm cầu cho vật liệu, máy móc, vận tải và lao động, qua đó hỗ trợ sản lượng ngay trong kỳ.

Lợi ích kinh tế dài hạn xuất hiện khi công trình được đưa vào sử dụng. Một tuyến đường giúp giảm thời gian vận chuyển, một hệ thống điện bảo đảm sản xuất liên tục hay hạ tầng cấp nước phục vụ khu công nghiệp mới có thể nâng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Khoảng cách giữa thời điểm xây dựng và thời điểm khai thác có ý nghĩa lớn trong năm tăng trưởng cao. Đầu tư có thể đóng góp đáng kể vào GDP hiện tại nhưng chưa tạo đủ năng lực cung ứng cho giai đoạn sau nếu công trình dở dang kéo dài. Khi đó, nguồn lực đã được huy động, chi phí đã phát sinh, còn lợi ích vẫn bị trì hoãn.

Vì vậy, tác động của đầu tư công phụ thuộc mạnh vào cơ cấu dự án và tiến độ hoàn thành. Tập trung nguồn lực vào những công trình có thể sớm khai thác thường tạo hiệu quả cao hơn việc tăng khối lượng ở nhiều dự án nhưng tiếp tục để lại các điểm đứt gãy.

Dồn thi công cuối năm có thể làm tăng chi phí

Quý IV phải đồng thời đáp ứng nhu cầu của đầu tư ngân sách, đầu tư tư nhân và các dự án FDI. Trong 9 tháng, vốn đầu tư ngoài Nhà nước tăng khoảng 14%, còn vốn của khu vực FDI tăng 14,54%. Cầu xây dựng đang mở rộng trên nhiều khu vực.

Nếu nhiều dự án tăng khối lượng cùng lúc trong khi nguồn vật liệu, nhân lực và năng lực nhà thầu chưa mở rộng tương ứng, giá và chi phí thi công có thể chịu sức ép. Một phần vốn tăng thêm khi đó được dùng để trang trải chi phí cao hơn, làm giảm khối lượng thực nhận được trên mỗi đồng vốn.

Sức ép nhiên liệu còn tác động đến vận chuyển vật liệu và vận hành thiết bị. Với các dự án có cự ly vận chuyển lớn, biến động nhiên liệu có thể ảnh hưởng đáng kể đến chi phí, dòng tiền và tiến độ nhà thầu.

Dồn thực hiện cũng làm tăng yêu cầu kiểm soát chất lượng. Khi mục tiêu tiến độ trở nên cấp bách, năng lực giám sát, nghiệm thu và xử lý thay đổi thiết kế cần theo kịp khối lượng thi công.

Ưu tiên khả năng hoàn thành và khai thác

Điều hành cuối năm cần tập trung vào những điểm đang giữ vốn ngoài công trường. Dự án vướng mặt bằng cần quyết định và phối hợp cụ thể; dự án thiếu vật liệu cần giải pháp nguồn cung; khối lượng đã hoàn thành cần được nghiệm thu, thanh toán kịp thời để duy trì dòng tiền nhà thầu.

Việc điều chỉnh vốn nên gắn với khả năng thực hiện thực tế và giá trị kinh tế của công trình. Các dự án có thể hoàn thành, đưa vào sử dụng và kết nối với hạ tầng hiện hữu cần được ưu tiên. Chuyển vốn chỉ để nâng tỷ lệ thực hiện có thể cải thiện chỉ tiêu tổng hợp mà chưa giải quyết được điểm nghẽn tăng trưởng.

Với các dự án liên vùng, tiến độ phải được quản lý theo toàn bộ chuỗi hạng mục. Hiệu quả của một công trình phụ thuộc vào những kết nối cần thiết để người dân và doanh nghiệp sử dụng được nó.

Đầu tư ngân sách đã tạo động lực tăng trưởng rõ trong 9 tháng. Áp lực còn lại là biến quy mô kế hoạch lớn thành công trình hoàn thành, chi phí hợp lý và năng lực phục vụ sản xuất. Đây sẽ là yếu tố quyết định phần lợi ích mà nền kinh tế nhận được sau giai đoạn tăng tốc thi công.