93% xuất khẩu tăng thêm đến từ FDI: Bài toán giá trị nội địa vẫn còn bỏ ngỏ

Xuất khẩu hàng hóa 9 tháng đầu năm 2026 đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,48% so với cùng kỳ. Đằng sau kết quả này là một sự phân hóa đáng chú ý. Khu vực FDI tăng xuất khẩu 29,37%, trong khi khu vực kinh tế trong nước chỉ tăng 7,48%. Tính theo kim ngạch tăng thêm, khoảng 93% động lực đến từ FDI.

Sự phân hóa ấy đặt ra vấn đề về khả năng chuyển sức tăng của thương mại thành thu nhập, lợi nhuận và năng lực sản xuất của doanh nghiệp Việt Nam. Khi xuất khẩu mở rộng chủ yếu trong các chuỗi FDI, lợi ích lan tỏa phụ thuộc rất lớn vào mức độ tham gia của nhà cung ứng nội địa.

Một chu kỳ tăng trưởng mang dấu ấn điện tử

Điện tử, máy tính và linh kiện đạt kim ngạch xuất khẩu 123,66 tỷ USD, tăng 59,55%. Máy móc, thiết bị tăng 27,89%, điện thoại và linh kiện tăng 18,77%. Trong khi đó, dệt may chỉ tăng 1,91%, giày dép tăng 1,40%.

Đây là sự khác biệt có ý nghĩa đối với thị trường lao động. Những ngành sử dụng nhiều lao động tăng xuất khẩu chậm, còn các chuỗi điện tử và thiết bị mở rộng mạnh. Vì vậy, một mức tăng xuất khẩu cao hơn có thể tạo ra tác động rất khác đến tuyển dụng và thu nhập, tùy ngành nào dẫn dắt.

Số liệu công nghiệp phản ánh cùng xu hướng. Tiêu thụ điện tử, máy tính và sản phẩm quang học tăng 17,59%, thiết bị điện tăng 18,85%, trong khi da và sản phẩm liên quan chỉ tăng 1,82%. Lao động trong doanh nghiệp chế biến, chế tạo tại ngày 1/9 tăng 3,58% so với cùng thời điểm năm trước, thấp hơn đáng kể mức tăng sản xuất 9 tháng là 12,93%.

Chênh lệch này phù hợp với việc doanh nghiệp khai thác công suất sẵn có, tăng giờ làm và mở rộng các ngành có cơ cấu sử dụng lao động khác trước. Nó cũng cho thấy sức tăng sản lượng chưa tạo ra mức mở rộng tương ứng về số người có việc làm.

Nhập khẩu tăng nhanh hé lộ cấu trúc phía sau xuất khẩu

Nhập khẩu hàng hóa đạt 453,71 tỷ USD, tăng 36,65%, nhanh hơn xuất khẩu gần 12,2 điểm phần trăm. Cán cân hàng hóa chuyển từ xuất siêu khoảng 16,87 tỷ USD cùng kỳ năm trước sang nhập siêu 19,42 tỷ USD.

Đáng chú ý, nhập khẩu điện tử, máy tính và linh kiện tăng 71,69%, đạt 188,94 tỷ USD. Nhập khẩu máy móc, thiết bị tăng 21,93%. Trong khu vực FDI, nhập khẩu tăng 41,99%, cao hơn tốc độ tăng xuất khẩu.

Diễn biến này phản ánh nhu cầu lớn về đầu vào và thiết bị để mở rộng sản xuất. Nhập khẩu tăng có thể tạo nền tảng cho sản lượng và xuất khẩu trong những kỳ tiếp theo. Tuy nhiên, khi linh kiện, thiết bị và dịch vụ kỹ thuật chủ yếu được mua từ bên ngoài, một phần đáng kể giá trị của sản phẩm xuất khẩu thuộc về các nhà cung cấp nước ngoài.

Kim ngạch xuất khẩu ghi nhận toàn bộ giá trị hàng hóa qua biên giới. Thu nhập tạo ra tại Việt Nam nằm ở tiền công, lợi nhuận, thuế và giá trị của các đầu vào, dịch vụ được cung cấp trong nước. Khoảng cách giữa hai đại lượng này quyết định mức độ nền kinh tế hưởng lợi từ mở rộng thương mại.

Vấn đề vì thế nằm ở khả năng doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào những chuỗi đang tăng trưởng nhanh. Nếu nhà cung ứng nội địa chủ yếu cung cấp các dịch vụ đơn giản, sức tăng xuất khẩu sẽ tạo ít cơ hội tích lũy công nghệ và lợi nhuận hơn so với việc tham gia sản xuất linh kiện, thiết kế, kiểm thử hoặc dịch vụ kỹ thuật.

Doanh nghiệp trong nước có đầu tư, nhưng khả năng kết nối còn hạn chế

Dữ liệu đầu tư cho thấy khu vực ngoài Nhà nước vẫn mở rộng hoạt động. Vốn đầu tư của khu vực này tăng khoảng 14%, chiếm 53% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tạo ra gần một nửa phần vốn tăng thêm.

Trong khi đó, xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước tăng 7,48%. Sự khác biệt cho thấy mở rộng đầu tư tư nhân chưa đi cùng mức cải thiện tương ứng về vị thế xuất khẩu. Một phần vốn có thể phục vụ thị trường nội địa; khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và tiếp cận khách hàng quốc tế cũng ảnh hưởng đến tốc độ mở rộng thị trường.

Doanh nghiệp nội địa cung cấp đầu vào cho FDI vẫn tạo ra giá trị trong nước dù không trực tiếp đứng tên xuất khẩu. Bởi vậy, điểm cần quan tâm là mức mua hàng nội địa và chất lượng liên kết giữa các khu vực doanh nghiệp. Đây là nơi sức tăng của FDI có thể trở thành sức tăng của doanh nghiệp Việt Nam.

Một khoảng trống khác nằm ở dịch vụ. Nhập khẩu dịch vụ vận tải 9 tháng tăng 35,12%, góp phần vào mức thâm hụt dịch vụ 8,21 tỷ USD. Thương mại mở rộng tạo thêm nhu cầu logistics, nhưng phần thu nhập này chưa được doanh nghiệp trong nước khai thác đầy đủ.

Giữ lại giá trị cần những năng lực cụ thể

Cơ hội lớn nhất nằm ngay trong các chuỗi đang mở rộng. Chính sách phát triển nhà cung ứng cần gắn với nhu cầu mua hàng thực tế của doanh nghiệp FDI, tập trung vào tiêu chuẩn kỹ thuật, chứng nhận, độ ổn định chất lượng và khả năng giao hàng.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chi phí thử nghiệm, chứng nhận và thời gian chờ thanh toán có thể cản trở việc tham gia chuỗi. Hỗ trợ những khâu này, cùng nguồn vốn phục vụ đơn hàng, sẽ giúp doanh nghiệp tận dụng nhu cầu đang tăng.

Logistics, bảo trì thiết bị, khuôn mẫu, kiểm thử và dịch vụ kỹ thuật cũng tạo cơ hội giữ lại thu nhập mà không đòi hỏi doanh nghiệp phải lập tức sản xuất toàn bộ linh kiện phức tạp.

Kết quả xuất khẩu năm 2026 cho thấy Việt Nam tiếp tục hấp dẫn đối với các chuỗi sản xuất quốc tế. Thách thức tiếp theo là mở rộng phần giá trị do doanh nghiệp và người lao động trong nước tạo ra. Khi liên kết cung ứng sâu hơn, sức tăng kim ngạch mới tạo được nền tảng tích lũy công nghệ, lợi nhuận và năng lực cạnh tranh lâu dài.