Lãi suất Fed và cái khó của Việt Nam khi cần vốn để tăng trưởng
Việt Nam cần thêm vốn cho sản xuất, đầu tư cơ sở hạ tầng và công nghệ. Tuy nhiên diễn biến chính sách của Fed đang khiến việc huy động nguồn vốn ấy trở nên khó hơn. Trong bối cảnh lạm phát trong nước đang tăng, chính sách hỗ trợ tăng trưởng đặt ra yêu cầu phải giảm lãi suất và mở rộng tín dụng. Đây có lẽ là tính huống tiến thoái lưỡng nan của chính sách phía cầu mà Việt Nam đang theo đuổi.
Quyết định lãi suất tại Washington có thể ảnh hưởng đến kế hoạch mở rộng nhà máy ở Bình Dương, chi phí nhập nguyên liệu của doanh nghiệp tại Đồng Nai hay khoản vay mua nhà của một gia đình ở Hà Nội. Tác động truyền dẫn qua nhiều bước, từ giá USD, dòng vốn quốc tế đến thanh khoản ngân hàng và lãi suất trong nước. Vì vậy, dù Fed chưa họp những thay đổi trong dự báo về chính sách của cơ quan này đã có thể làm thị trường chuyển động.
Đến ngày 16/10, giới đầu tư nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tại cuộc họp cuối tháng, sau đợt tăng thêm 0,25 điểm phần trăm trong tháng 9, đưa biên độ mục tiêu lên 3,75 – 4%. Tuy nhiên, kỳ vọng tăng tiếp vào tháng 12 vẫn hiện diện. Theo Reuters, phần lớn quan chức Fed muốn có thêm dữ liệu để đánh giá lạm phát trước khi hành động.
Với Việt Nam, điều cần quan tâm là mặt bằng lãi suất Hoa Kỳ có thể duy trì cao đến bao giờ. Nếu thời gian ấy kéo dài, sức ép tích tụ lên tỷ giá và chi phí vốn sẽ đáng chú ý hơn bản thân một lần tăng lãi suất.
Đầu tư tăng tốc khiến tiền khó rẻ
Số liệu kinh tế Hoa Kỳ đang đưa ra những tín hiệu khác nhau. Tháng 9, CPI tăng 3,7% so với cùng kỳ, cao hơn mức 3,4% của tháng 8. Giá xăng tăng mạnh là một nguyên nhân quan trọng, nhưng CPI cơ bản cũng tăng từ 2,4% lên 2,6%. Trong khi đó, nền kinh tế chỉ tạo thêm 29.000 việc làm và tỷ lệ thất nghiệp lên 4,2%.
Fed có lý do để thận trọng. Tăng lãi suất quá nhanh có thể gây thêm khó khăn cho tuyển dụng và sản xuất, song lạm phát tăng trở lại khiến việc sớm hạ lãi suất khó được biện minh. Đáng chú ý, sức mua vẫn có khả năng chống chịu. Chi tiêu tiêu dùng thực tháng 8 tăng 0,6% so với tháng trước, theo Cục Phân tích kinh tế Hoa Kỳ.
Một yếu tố mới làm cho bài toán phức tạp hơn là đầu tư vào trí tuệ nhân tạo. Các trung tâm dữ liệu cần điện, thiết bị, công trình xây dựng và những khoản vốn lớn. Chi tiêu xuất hiện ngay khi dự án triển khai, trong khi lợi ích năng suất cần thời gian để lan tỏa. Biên bản cuộc họp tháng 9 cho thấy một số thành viên Fed lo ngại quá trình này có thể khiến tổng cầu tăng nhanh hơn tổng cung trong trung hạn.
Đây cũng là vấn đề đáng suy nghĩ đối với Việt Nam. Đầu tư vào công nghệ và cơ sở hạ tầng giúp nâng năng lực sản xuất, nhưng trong thời gian xây dựng, nền kinh tế phải huy động vốn, nhập thiết bị và sử dụng thêm nguồn lực rất lớn. Nếu nhiều dự án cùng triển khai khi nguồn cung chưa kịp đáp ứng, nhu cầu ngoại tệ và sức ép chi phí có thể tăng trước khi năng suất được cải thiện.
Bởi vậy, triển vọng tăng trưởng tốt khó đi cùng mức lãi suất thấp được. Trong dự báo tháng 9, trung vị lãi suất cuối năm 2027 của các thành viên Fed được nâng lên 4,1%, so với mức 3,6% dự báo hồi tháng 6. Đây là đánh giá có điều kiện của từng thành viên, nhưng cho thấy kỳ vọng về thời điểm giảm chi phí vốn đã thay đổi đáng kể.
Nhu cầu vốn trong nước gặp sức ép từ bên ngoài
Việt Nam đang ở giai đoạn cần nguồn lực lớn cho đầu tư. Khi doanh nghiệp mở rộng nhà máy và các dự án cơ sở hạ tầng được đẩy nhanh, nhu cầu tín dụng tăng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, vốn huy động trong nước vẫn chịu tác động của thị trường quốc tế.
Nếu lợi suất tài sản bằng USD hấp dẫn hơn, nhà đầu tư sẽ đòi hỏi mức sinh lời phù hợp khi đưa vốn vào những thị trường khác. Với tài sản bằng VND, họ còn phải tính đến khả năng biến động tỷ giá. Một khoản đầu tư có lợi nhuận bằng tiền đồng vẫn có thể kém hấp dẫn nếu phần lợi nhuận quy đổi sang USD bị thu hẹp.
Cơ chế này cũng ảnh hưởng đến người đi vay. Doanh nghiệp huy động vốn quốc tế phải tính cả lãi suất tham chiếu, phần bù rủi ro và chi phí phòng ngừa tỷ giá. Một mức lãi suất vay USD nhìn qua có vẻ thấp chưa chắc đem lại tổng chi phí thấp hơn vay VND.
Ở trong nước, nếu nhu cầu tín dụng tăng nhanh hơn khả năng huy động vốn ổn định, ngân hàng phải cạnh tranh tiền gửi nhiều hơn. Khi ấy, sức ép lên lãi suất có thể đến từ cả nhu cầu vốn nội địa lẫn điều kiện tài chính quốc tế. Việc giữ nguyên lãi suất điều hành vì thế chưa bảo đảm mọi doanh nghiệp đều tiếp tục vay được với giá cũ.
Tỷ giá nối câu chuyện vốn với câu chuyện giá cả
Tỷ giá là điểm kết nối quan trọng giữa sức ép bên ngoài và ổn định trong nước. Khi doanh nghiệp mua thêm máy móc, nguyên liệu và nhiên liệu, nhu cầu thanh toán ngoại tệ tăng. Nếu cùng thời điểm đó, USD trở nên hấp dẫn hơn vì triển vọng lãi suất Hoa Kỳ, thị trường ngoại hối có thể chịu sức ép từ hai phía.
Chín tháng năm 2026, nhập khẩu của Việt Nam tăng 36,7%, nhanh hơn mức tăng xuất khẩu 24,5%. Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD. Máy móc, thiết bị và nguyên liệu phục vụ sản xuất chiếm phần lớn nhập khẩu.
Những khoản nhập khẩu ấy có thể tạo năng lực sản xuất cho các năm tới. Nhưng trước mắt, doanh nghiệp vẫn cần ngoại tệ để thanh toán. Nguồn thu xuất khẩu tương lai không tự động giải quyết được chênh lệch thời điểm giữa lúc phải trả tiền mua thiết bị và lúc nhà máy bắt đầu tạo doanh thu.
Tỷ giá tăng còn làm thay đổi hiệu quả dự án. Chi phí đầu tư bằng tiền đồng có thể đội lên nếu thiết bị được định giá bằng USD. Với doanh nghiệp đang hoạt động, nguyên liệu nhập khẩu đắt hơn có thể làm giảm lợi nhuận hoặc buộc họ điều chỉnh giá bán.
Điều này đáng lưu ý khi CPI bình quân chín tháng của Việt Nam đã tăng 4,52%, lạm phát cơ bản tăng 4,26%. Riêng tháng 9, CPI cao hơn cùng kỳ 5,08%.
Trong bối cảnh ấy, hạ lãi suất mạnh để hỗ trợ tăng trưởng có thể kéo theo những phản ứng làm giảm hiệu quả của chính sách. Nếu kỳ vọng mất giá gia tăng, doanh nghiệp có thể mua ngoại tệ sớm, người có ngoại tệ chậm bán hơn, còn ngân hàng phải cân đối lại nguồn vốn. Sự thay đổi hành vi có thể khuếch đại sức ép ban đầu.
Người Mỹ vẫn mua hàng, nhưng doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh đơn hàng
Lãi suất Hoa Kỳ cao kéo dài cũng tác động đến Việt Nam qua thương mại. Tuy nhiên, tác động này phụ thuộc nguyên nhân khiến lãi suất cao.
Nếu kinh tế Hoa Kỳ vẫn tăng trưởng và doanh nghiệp tiếp tục đầu tư, một phần nhu cầu hàng hóa có thể được duy trì. Nếu chi phí vay bắt đầu làm giảm mua sắm, xây dựng nhà ở và đầu tư, các ngành cung ứng cho những hoạt động đó sẽ chịu ảnh hưởng rõ hơn.
Vì vậy, dự báo xuất khẩu cần đi vào từng nhóm khách hàng. Doanh nghiệp đồ gỗ cần theo dõi thị trường nhà ở và sức mua hàng gia dụng. Doanh nghiệp điện tử cần phân biệt nhu cầu tiêu dùng với nhu cầu thiết bị phục vụ đầu tư công nghệ. Cùng một thị trường Hoa Kỳ, đơn hàng giữa các ngành có thể diễn biến khác nhau.
Mức độ liên quan với Việt Nam rất lớn. Hoa Kỳ nhập khẩu 140 tỷ USD hàng hóa Việt Nam trong 9 tháng năm 2026, tương đương khoảng 32,2% tổng kim ngạch xuất khẩu, tính từ số liệu của Cục Thống kê.
Doanh nghiệp xuất khẩu cũng cần thận trọng với kỳ vọng được lợi nhờ tỷ giá. Nếu doanh thu và phần lớn chi phí đầu vào đều bằng USD, lợi ích ròng có thể nhỏ. Nếu khách hàng yêu cầu giảm giá hoặc kéo dài thời hạn thanh toán, phần lợi ích quy đổi còn có thể bị thu hẹp thêm.
Giảm nhu cầu vay bằng cách giải phóng nguồn vốn đang mắc kẹt
Trong môi trường này, hỗ trợ tăng trưởng cần chú ý hơn đến vòng quay của vốn. Một doanh nghiệp chậm được hoàn thuế, chậm nhận thanh toán hoặc phải kéo dài thời gian lưu kho sẽ cần vay nhiều hơn để duy trì cùng một quy mô hoạt động. Xử lý những ách tắc đó có thể giảm chi phí tài chính mà không cần giảm đồng loạt lãi suất.
Thanh toán đúng hạn cho nhà thầu giúp dòng tiền đi tiếp đến nhà cung cấp và người lao động. Giải quyết thủ tục dự án sớm giúp doanh nghiệp bớt thời gian trả lãi khi công trình chưa tạo doanh thu. Rút ngắn thông quan và cải thiện logistics giúp giảm lượng vốn nằm trong hàng tồn kho. Đây là những việc có tác động trực tiếp đến khả năng chịu đựng của doanh nghiệp khi vốn đắt hơn.
Đầu tư công cũng cần được lựa chọn theo khả năng tạo hiệu quả và giảm chi phí cho nền kinh tế. Công trình điện, giao thông hoặc logistics hoàn thành đúng thời điểm có thể nâng hiệu quả của nhiều dự án tư nhân cùng lúc. Ngược lại, một dự án kéo dài vừa chiếm dụng nguồn lực, vừa trì hoãn lợi ích mà nền kinh tế trông đợi.
Với doanh nghiệp, quản trị dòng tiền và cơ cấu nợ cần được đặt gần hơn với quyết định đầu tư. Dự án chỉ có lãi khi lãi suất thấp và tỷ giá ổn định sẽ dễ gặp khó khăn nếu điều kiện tài chính thay đổi. Việc kiểm tra khả năng trả nợ trong những tình huống bất lợi cần được thực hiện ngay khi quyết định quy mô vay và tiến độ triển khai.
Cuộc họp cuối tháng 10 của Fed sẽ cung cấp thêm thông tin về lộ trình lãi suất Hoa Kỳ. Trong lúc chờ đợi, Việt Nam có thể chủ động xử lý những yếu tố quyết định hiệu quả sử dụng vốn trong nước. Khi chi phí vốn quốc tế khó giảm nhanh, mỗi tháng rút ngắn thủ tục, mỗi khoản thanh toán được giải quyết đúng hạn và mỗi công trình sớm đưa vào sử dụng đều có giá trị thiết thực đối với tăng trưởng.
