Áp lực giá cả 9 tháng 2026 đang dồn vào những khoản chi khó cắt giảm
Giá xăng dầu khiến CPI tháng 9 tăng mạnh, nhưng xét chung 9 tháng, mặt hàng ăn uống và nhà ở mới là hai nhóm đóng góp lớn nhất vào lạm phát. Cơ cấu này cho thấy sức ép giá cả đang tập trung vào những nhu cầu thiết yếu, ở đó người dân có ít khả năng điều chỉnh chi tiêu.
Trong tháng 9/2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 0,62% so với tháng trước. Nhóm giao thông đóng góp 0,4 điểm phần trăm, tương đương gần 65% mức tăng chung. Tuy nhiên, tính bình quân 9 tháng, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống cùng nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng đóng góp tổng cộng 3,21 điểm phần trăm, chiếm khoảng 71% mức tăng CPI 4,52%.
Hai kết quả này phản ánh những khía cạnh khác nhau của diễn biến giá cả thời gian qua. Xăng dầu tạo ra biến động lớn trong tháng, trong khi chi phí ăn uống và nhà ở gây sức ép kéo dài lên ngân sách gia đình. Vì vậy, ngay cả khi giá nhiên liệu hạ nhiệt, gánh nặng sinh hoạt chưa chắc đã giảm tương ứng.
Đặc điểm đáng quan tâm của cơ cấu lạm phát hiện nay là mức tăng giá tập trung vào những khoản chi tiêu khó cắt giảm. Nếu giá hàng hóa mặt hàng lâu bền tăng, người dân có thể trì hoãn mua sắm lại. Tương tự, nếu dịch vụ du lịch đắt đỏ hơn, họ có thể giảm việc đi chơi. Tuy nhiên với thực phẩm, chỗ ở, điện nước, khả năng điều chỉnh hạn chế hơn nhiều. Các gia đình vẫn phải duy trì những khoản chi này để bảo đảm sinh hoạt và công việc.
Do đó, tác động của lạm phát không chỉ ở số tiền phải trả thêm cho từng mặt hàng. Khi chi phí thiết yếu tăng, phần thu nhập dành cho những nhu cầu khác bị thu hẹp. Một gia đình phải dành thêm tiền cho bữa ăn và tiền thuê nhà có thể làm giảm nhu cầu mua quần áo, hạn chế giải trí hoặc tiết kiệm ít hơn. Qua đó, sức ép giá cả ở một số nhóm hàng có thể ảnh hưởng đến sức mua của nhiều ngành khác.
Ảnh hưởng này cũng không đồng đều giữa các hộ gia đình. Người có thu nhập thấp thường dành phần lớn ngân sách cho sinh hoạt thiết yếu nên có ít dư địa để xoay xở. Người thuê nhà tại đô thị còn chịu ràng buộc về vị trí chỗ ở, khoảng cách đến nơi làm việc và chi phí đi lại. Bởi vậy, cùng một mức tăng CPI, mức độ khó khăn mà mỗi gia đình trải qua hay cảm nhận được có thể rất khác nhau.
Trong nhóm ăn uống, diễn biến giá dịch vụ đáng chú ý hơn mức tăng của cả nhóm. Bình quân 9 tháng, giá ăn uống ngoài gia đình tăng 7,14%, trong khi nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,72%.
Chênh lệch này gợi ý rằng sức ép lên giá một bữa ăn có thể đến từ nhiều khoản chi ngoài thực phẩm. Quán ăn còn phải trả tiền thuê mặt bằng, nhân công, điện nước và cả chi phí vận chuyển. Nếu những chi phí này duy trì ở mức cao, giá nguyên liệu giảm cũng chưa thể đủ để kéo giá bán xuống.
Điều này có ý nghĩa đối với người lao động phải ăn ngoài thường xuyên. Khả năng tự nấu ăn phụ thuộc vào thời gian, điều kiện chỗ ở và tính chất công việc. Với những người làm việc theo ca, ở trọ hoặc đi làm xa, bữa ăn mua sẵn là một phần của chi phí duy trì việc làm. Giá dịch vụ ăn uống tăng vì thế có thể tác động trực tiếp đến phần thu nhập họ còn giữ lại.
Tuy nhiên, mức tăng giá ăn uống cao hơn giá thực phẩm chưa đủ để kết luận cơ sở kinh doanh đang tăng lợi nhuận. Để đánh giá cần có thêm thông tin về chi phí và mức độ cạnh tranh. Vấn đề mà số liệu đặt ra là phải xem xét toàn bộ các khâu hình thành giá thay vì chỉ theo dõi nguyên liệu đầu vào.
Với nhà ở, khả năng giảm chi tiêu cũng bị giới hạn bởi những ràng buộc tương tự. Người thuê nhà có thể tìm nơi rẻ hơn, song thường phải đánh đổi bằng khoảng cách đi làm xa hơn, thời gian di chuyển dài hơn hoặc điều kiện sống kém hơn. Nếu khoản tiết kiệm tiền thuê bị bù trừ bởi chi phí đi lại, tổng gánh nặng sinh hoạt gần như không thay đổi.
Vì vậy, chi phí nhà ở có quan hệ chặt chẽ với cách phân bố việc làm và tổ chức giao thông đô thị. Nếu việc làm tập trung ở những nơi thiếu nhà ở phù hợp với thu nhập, người lao động khó hưởng trọn lợi ích từ việc tăng lương. Một phần thu nhập tăng thêm có thể phải dùng để trang trải tiền thuê và đi lại. Điều này hàm ý là việc mở rộng nguồn cung nhà ở vừa túi tiền, cùng với kết nối giao thông thuận tiện sẽ giúp giảm sức ép này một cách bền vững hơn.
Ở bình diện chung, lạm phát cơ bản bình quân 9 tháng tăng 4,26%, khá gần mức tăng 4,52% của CPI.
Kết quả đó cho thấy áp lực giá vẫn đáng kể trong phần hàng hóa, dịch vụ được giữ lại khi tính lạm phát cơ bản. Tuy nhiên, chỉ tiêu này chưa cho phép xác định áp lực chủ yếu đến từ phía cầu kéo hay từ chi phí đẩy. Giá cả có thể tăng do sức mua mở rộng nhưng cũng có thể chịu tác động của tiền thuê, nhân công và chi phí đầu vào truyền qua nhiều khâu.
Phân biệt hai nguyên nhân này có ý nghĩa quan trọng đối với cơ quan điều hành. Nếu nhu cầu tăng quá nhanh so với năng lực cung ứng, chính sách cần hạn chế việc tạo thêm sức ép lên giá. Nếu khó khăn chủ yếu nằm ở nguồn cung và chi phí, việc kiềm chế sức mua trên diện rộng có thể làm giảm hoạt động kinh doanh mà chưa giải quyết được những khoản chi đang gây áp lực.
Cơ cấu giá hiện nay đặt ra yêu cầu phối hợp giữa ổn định kinh tế vĩ mô và cải thiện khả năng cung ứng hàng hóa, dịch vụ thiết yếu. Với thực phẩm, cần chú ý đến nguồn cung, bảo quản, vận chuyển và hiệu quả phân phối. Với nhà ở, cần quan tâm đến nguồn cung phù hợp với thu nhập và khả năng kết nối với nơi làm việc. Với các dịch vụ có giá được điều chỉnh theo quyết định quản lý, lộ trình cần tính đến tác động cộng dồn lên ngân sách gia đình, v.v…
Chính sách hỗ trợ cũng cần dựa trên mức độ chịu ảnh hưởng thực tế. Những gia đình có thu nhập bấp bênh và ít dự phòng dễ gặp khó khăn hơn khi chi phí thiết yếu tăng. Hỗ trợ đúng đối tượng có thể bảo vệ mức sống của họ, đồng thời hạn chế việc kích thích thêm nhu cầu trên diện rộng.
Tóm lại, diễn biến CPI tháng 9 khiến giá xăng dầu trở thành vấn đề đáng quan tâm, song số liệu 9 tháng cũng cho thấy áp lực không nhỏ nằm ở bữa ăn và chỗ ở. Trong khi việc kiểm soát tốt những biến động ngắn hạn là cần thiết thì cải thiện khả năng trang trải các nhu cầu thiết yếu mới tạo nền tảng lâu dài cho đời sống người dân và sức mua của nền kinh tế.
