Kinh tế tăng tốc 9 tháng 2026, vì sao thanh niên thành thị khó tìm việc hơn?
Thất nghiệp thanh niên thành thị quý III/2026 đạt gần 12,5%, trong khi việc làm cả nước tăng và doanh nghiệp tiếp tục mở rộng tuyển dụng. Đối chiếu với cùng kỳ cho thấy đây là một điểm nghẽn kéo dài trong khả năng kết nối người trẻ với việc làm, hơn là sự suy yếu đột ngột của thị trường lao động.
GDP quý III tăng 9,95% so với cùng kỳ. Số người có việc làm đạt gần 52,97 triệu, tăng khoảng 292.000 người so với quý trước. Công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đóng góp hơn 91% phần tăng việc làm. Tỷ lệ thiếu việc làm giảm, tỷ trọng việc làm phi chính thức cũng thu hẹp.
Nhưng tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên thành thị tăng từ 9,75% trong quý II lên 12,49% trong quý III. Khoảng cách với thanh niên nông thôn nới rộng từ 1,67 lên 5,37 điểm phần trăm. Sự cải thiện của thị trường lao động chung đang đi cùng khó khăn lớn đối với một bộ phận người mới gia nhập.
Thất nghiệp cao đã kéo dài qua nhiều kỳ tăng trưởng
Thông cáo của Cục Thống kê cho biết thất nghiệp thanh niên thành thị quý III/2025 đã đạt 12,42%. So với mức đó, quý III/2026 chỉ tăng khoảng 0,07 điểm phần trăm. Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên cả nước cũng gần như đi ngang, từ 9,03% lên 9,07%.
So sánh này làm rõ bản chất vấn đề. Mức tăng mạnh so với quý II có thể chứa yếu tố mùa vụ khi người trẻ hoàn tất chương trình học và bắt đầu tìm việc. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao sau một năm kinh tế tiếp tục mở rộng. Khó khăn gia nhập thị trường lao động chưa được giải quyết tương xứng với tốc độ tăng trưởng.
Tăng tổng cầu thường giúp doanh nghiệp bán hàng và tuyển thêm người. Nhưng tác động đó sẽ yếu hơn đối với những ứng viên không đáp ứng yêu cầu của vị trí đang mở. Khi nhu cầu tuyển dụng và nguồn cung lao động khác nhau về kỹ năng, kinh nghiệm hoặc địa điểm, tăng trưởng kinh tế có thể cải thiện việc làm chung mà vẫn để lại một nhóm thất nghiệp lớn.
Nhu cầu tuyển dụng tăng, nhưng doanh nghiệp chọn lọc hơn
Khảo sát của ManpowerGroup công bố tháng 9/2026, với 285 doanh nghiệp tại Việt Nam, cho thấy 52% dự kiến tăng nhân sự trong quý IV và 16% dự kiến giảm. Đồng thời, khoảng một nửa doanh nghiệp nêu thiếu ứng viên phù hợp là yếu tố làm chậm tuyển dụng; 43% ghi nhận sự lệch nhau giữa kỳ vọng ứng viên và yêu cầu công việc.
Đây là bằng chứng cho thấy khó khăn tuyển dụng tồn tại đồng thời với thất nghiệp. Doanh nghiệp có nhu cầu, nhưng việc tìm được người đáp ứng yêu cầu mất thời gian. Người tìm việc cũng phải kéo dài quá trình lựa chọn hoặc chấp nhận một vị trí khác với chuyên môn và kỳ vọng.
Đối với doanh nghiệp, tuyển một người chưa có kinh nghiệm đòi hỏi chi phí hướng dẫn, giám sát và thời gian trước khi người đó tạo ra năng suất đủ cao. Khi đơn hàng cần thực hiện nhanh hoặc biên lợi nhuận chịu sức ép, doanh nghiệp có động cơ ưu tiên ứng viên làm được việc ngay. Người trẻ vì thế gặp bất lợi ngay tại bước đầu tiên, dù có nền tảng học vấn.
Khoảng cách này khó được giải quyết chỉ bằng tăng số người có bằng cấp. Trong quý III/2026, 30,4% lực lượng lao động có bằng hoặc chứng chỉ đào tạo, nhưng doanh nghiệp còn cần năng lực thực hành, khả năng sử dụng công cụ và phối hợp trong quy trình làm việc. Bằng cấp giúp nhận diện quá trình đào tạo; năng suất kỳ vọng mới quyết định việc tuyển dụng.
Ngân hàng Thế giới, trong báo cáo về nhân lực công nghệ cao Việt Nam năm 2025, nhấn mạnh vai trò của liên kết đại học–doanh nghiệp trong phát triển lực lượng lao động sẵn sàng làm việc và thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Khoảng cách giữa đào tạo và sản xuất vì thế còn là trở ngại đối với khả năng nâng cấp nền kinh tế.
Công nghệ đang thay đổi những vị trí dành cho người mới
Trong khảo sát ManpowerGroup, 57% doanh nghiệp cho biết tăng tuyển nhân sự đầu vào nghề nghiệp so với năm 2025. Tuy nhiên, nhu cầu tập trung vào kỹ thuật, công nghệ thông tin, dữ liệu và AI. Trong nhóm giảm tuyển người mới, các lý do gồm áp lực chi phí, tự động hóa và ứng viên thiếu kinh nghiệm liên quan.
Cơ hội dành cho người trẻ vẫn mở rộng, nhưng phân bố khác nhau theo ngành nghề. Những ứng viên có kỹ năng phù hợp với công nghệ và kỹ thuật có lợi thế hơn; các vị trí thực hiện tác vụ đơn giản có thể chịu sức ép tự động hóa.
Điều đáng chú ý là những tác vụ đơn giản từng là nơi người mới tích lũy kinh nghiệm. Khi doanh nghiệp thu hẹp các vị trí này, một phần con đường học nghề trong công việc cũng bị thu hẹp. Người trẻ phải chứng minh năng lực cao hơn trước khi được tuyển, trong khi cơ hội xây dựng năng lực qua việc làm đầu tiên lại ít thuận lợi hơn.
Cơ chế này có thể khiến tình trạng thiếu nhân lực và thất nghiệp cùng kéo dài. Doanh nghiệp chờ ứng viên đủ kinh nghiệm; ứng viên cần được tuyển để có kinh nghiệm. Chi phí của khoảng trống đó được phân bổ cho người trẻ, gia đình và cả doanh nghiệp đang cần người.
Thành thị và nông thôn có những dạng khó khăn khác nhau
Tỷ lệ thất nghiệp thanh niên thành thị cao hơn không đồng nghĩa mọi khó khăn đều tập trung ở thành phố. Theo Cục Thống kê, quý III/2025, tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo ở nông thôn là 13%, cao hơn mức 9,5% tại thành thị.
Thành thị có nhiều người tích cực tìm việc nhưng chưa được tuyển; nông thôn còn có một bộ phận đứng ngoài cả việc làm lẫn đào tạo. Khả năng tham gia công việc gia đình hoặc việc làm phi chính thức cũng có thể làm tỷ lệ thất nghiệp nông thôn thấp hơn, dù chất lượng việc làm chưa cao.
ILO dẫn số liệu cho thấy quý II/2026 Việt Nam có khoảng 1,4 triệu thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo. Trong số thanh niên đã có việc năm 2024, việc làm phi chính thức chiếm 57,5%, còn tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội là 41,4%. Khó khăn của người trẻ vì thế trải từ tìm việc đến khả năng duy trì một công việc có thu nhập và bảo vệ xã hội ổn định.
Số liệu chín tháng cho thấy thị trường lao động chung đang cải thiện, nhưng quá trình gia nhập của người trẻ còn nhiều trở ngại. Tăng trưởng tạo thêm nhu cầu lao động; chất lượng kết nối giữa đào tạo và tuyển dụng quyết định ai tiếp cận được nhu cầu ấy.
Các chương trình thực tập có trả lương, học nghề tại doanh nghiệp và tuyển dụng gắn với đào tạo có giá trị kinh tế ở chính khả năng chia sẻ chi phí tạo kinh nghiệm ban đầu. Khi doanh nghiệp có điều kiện đào tạo người mới và người trẻ được làm việc trong quy trình thực tế, khoảng cách giữa năng lực hiện có và yêu cầu tuyển dụng mới có thể thu hẹp. Đây là khâu quyết định để đà tăng kinh tế hiện nay mở rộng cơ hội nghề nghiệp cho thế hệ lao động tiếp theo.
