Cà phê xuất khẩu 9 tháng 2026 nhiều hơn nhưng thu về ít hơn

Lượng cà phê xuất khẩu tăng 16,2% trong 9 tháng đầu năm 2026, nhưng kim ngạch giảm 6,9%. Đằng sau hai con số trái chiều là mức giảm gần 20% của giá xuất khẩu bình quân, khiến phần doanh thu tăng thêm từ sản lượng không đủ bù sức ép về giá.

Trong 9 tháng, Việt Nam xuất khẩu khoảng 1,45 triệu tấn cà phê, thu về 6,57 tỷ USD. So với cùng kỳ, lượng xuất khẩu tăng hơn 202.000 tấn, nhưng nguồn thu giảm gần 490 triệu USD. Bình quân mỗi tấn cà phê xuất khẩu mang về khoảng 4.525 USD, thấp hơn mức 5.651 USD của cùng kỳ năm trước.

Điểm đáng chú ý nằm ở quy mô tác động của hai chiều biến động. Với mức giá bình quân cùng kỳ, lượng cà phê xuất khẩu tăng thêm có thể tạo ra khoảng 1,15 tỷ USD doanh thu. Tuy nhiên, mức giảm của đơn giá bình quân trên lượng hàng xuất khẩu năm nay làm nguồn thu thấp hơn khoảng 1,63 tỷ USD. Tác động giảm từ đơn giá lớn gấp 1,43 lần phần tăng từ sản lượng, kéo tổng kim ngạch đi xuống.

Như vậy, năng lực đưa hàng ra thị trường vẫn mở rộng, nhưng giá trị thu về trên mỗi đơn vị hàng hóa suy giảm mạnh. Đây là sức ép trực tiếp đối với một ngành xuất khẩu mà biến động giá có thể quyết định kết quả kinh doanh ngay cả khi sản lượng tăng.

Quý III: lượng gần gấp đôi, kim ngạch chỉ tăng 19%

Diễn biến quý III thể hiện rõ hơn sự phân kỳ giữa lượng và giá trị. Việt Nam xuất khẩu gần 535.000 tấn cà phê, tăng 99,8% so với cùng kỳ, trong khi kim ngạch đạt 1,76 tỷ USD, tăng 19,1%.

Giá xuất khẩu bình quân quý III còn khoảng 3.298 USD/tấn, giảm 40,4% so với mức 5.533 USD/tấn của cùng kỳ. Lượng hàng gần gấp đôi giúp kim ngạch giữ được tăng trưởng, nhưng mức tăng nguồn thu thấp hơn rất nhiều so với mức tăng khối lượng.

Nếu giữ đơn giá bình quân cùng kỳ, lượng xuất khẩu tăng thêm trong quý III tạo ra khoảng 1,48 tỷ USD doanh thu. Phần giảm do đơn giá thấp hơn lên tới gần 1,20 tỷ USD, hấp thụ khoảng 81% tác động tăng từ sản lượng. Kết quả, kim ngạch chỉ tăng khoảng 283 triệu USD.

Sự gia tăng mạnh của lượng xuất khẩu vì thế tạo ra một nghịch lý: hoạt động vận chuyển, lưu kho và giao hàng mở rộng nhanh, trong khi doanh thu tăng chậm hơn nhiều. Với doanh nghiệp, khối lượng công việc và nhu cầu tài trợ hàng hóa có thể tăng mà khả năng tạo doanh thu trên mỗi tấn hàng lại giảm.

Sức ép lan từ doanh thu xuất khẩu đến chuỗi cung ứng

Cà phê có sự kết nối chặt giữa thị trường quốc tế, doanh nghiệp xuất khẩu và vùng nguyên liệu trong nước. Khi mức thu về trên mỗi tấn hàng giảm, sức ép sẽ đi vào quá trình thương lượng giá thu mua, quản trị tồn kho và thực hiện hợp đồng.

Mức độ chịu ảnh hưởng giữa các doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào thời điểm mua nguyên liệu và chốt giá bán. Những đơn vị còn nắm hàng được mua ở mặt bằng giá cao sẽ chịu áp lực lớn hơn khi giá bán giảm. Ngược lại, doanh nghiệp có khả năng điều chỉnh nhanh giá mua, vòng quay tồn kho và điều kiện hợp đồng sẽ có dư địa thích ứng tốt hơn. Tăng sản lượng giao hàng trong bối cảnh này chưa bảo đảm biên lợi nhuận tăng tương ứng.

Ở quy mô nền kinh tế, gần 490 triệu USD kim ngạch giảm là phần nguồn thu ngoại tệ thu hẹp dù lượng hàng xuất khẩu tăng. So với kịch bản giữ đơn giá bình quân cùng kỳ, chênh lệch nguồn thu lên tới khoảng 1,63 tỷ USD. Con số này cho thấy mức độ nhạy cảm của xuất khẩu cà phê trước biến động giá và cơ cấu hàng bán.

Diễn biến của gạo làm rõ thêm sức ép đối với xuất khẩu nông sản. Trong 9 tháng, lượng gạo xuất khẩu giảm 5,4%, kim ngạch giảm 12,3%, kéo đơn giá bình quân giảm khoảng 7,2%. Cà phê có mức tăng sản lượng để bù đắp một phần tác động về giá; gạo đồng thời chịu sự suy giảm của cả lượng và đơn giá. Tổng kim ngạch hai mặt hàng giảm khoảng 917 triệu USD so với cùng kỳ.

Với cà phê, vấn đề kinh tế nổi bật của năm 2026 là khả năng giữ giá trị trên mỗi tấn hàng. Lượng xuất khẩu đã tăng khá mạnh, nhưng phần mở rộng đó bị tác động về đơn giá lấn át. Năng lực chế biến, chất lượng ổn định, phân khúc sản phẩm và quản trị rủi ro hợp đồng vì thế có vai trò quyết định hơn đối với khả năng giữ doanh thu và lợi nhuận của chuỗi cà phê Việt Nam.