Đầu tư tư nhân tăng, nhưng sao sức bật doanh nghiệp chưa tương xứng?

Vốn đầu tư của khu vực ngoài Nhà nước 9 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 1.649 nghìn tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ. Khu vực này chiếm 53% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tạo ra gần một nửa phần vốn tăng thêm. Đây là đóng góp đáng kể trong bối cảnh GDP tăng 9,01%.

Tuy nhiên, số doanh nghiệp thành lập mới và quay lại hoạt động lại giảm. Vốn đăng ký tăng nhanh, nhưng lao động đăng ký giảm. Các chỉ tiêu đang phản ánh hai diễn biến khác nhau – dòng vốn tư nhân tiếp tục mở rộng, trong khi nền tảng doanh nghiệp chưa mở rộng tương ứng.

Dòng vốn tăng nhanh hơn số doanh nghiệp

Trong 9 tháng, cả nước có 149.673 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 3,23%. Tổng vốn đăng ký đạt khoảng 1.884 nghìn tỷ đồng, tăng 32,66%. Bình quân mỗi doanh nghiệp mới đăng ký 12,59 tỷ đồng, cao hơn cùng kỳ 28,50%.

Ngược lại, lao động đăng ký của doanh nghiệp mới giảm 16,12%, còn khoảng 733 nghìn người. Bình quân mỗi doanh nghiệp đăng ký gần 4,9 lao động, so với khoảng 6 người cùng kỳ năm trước.

Sự thay đổi này cho thấy quy mô vốn đăng ký tăng mạnh hơn quy mô tuyển dụng ban đầu. Có thể cơ cấu doanh nghiệp mới đang nghiêng về những lĩnh vực cần nhiều vốn, ít lao động; cũng có thể doanh nghiệp đăng ký vốn lớn nhưng triển khai hoạt động và tuyển dụng theo từng giai đoạn. Trong cả hai trường hợp, sức tăng của vốn đăng ký chưa tạo ra tác động tương ứng lên việc làm.

Diễn biến tháng 9 càng làm rõ sự phân hóa. Số doanh nghiệp thành lập mới giảm 31,10% so với cùng kỳ, nhưng vốn đăng ký vẫn tăng 6,04%. Vốn bình quân mỗi doanh nghiệp mới vì vậy tăng tới 53,92%. Dòng đăng ký mới đang thu hẹp về số lượng nhưng tăng về quy mô vốn.

Khả năng quay lại thị trường suy giảm

Có 74.265 doanh nghiệp quay lại hoạt động trong 9 tháng, giảm 14%. Tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay lại đạt 223.938, giảm khoảng 3,20%.

Đây là điểm đáng chú ý khi sản xuất, đầu tư và tiêu dùng đều tăng. Sự mở rộng của thị trường chưa đủ để thúc đẩy số doanh nghiệp tái gia nhập tăng tương ứng. Với doanh nghiệp từng tạm ngừng, quyết định quay lại phụ thuộc vào khả năng tiếp cận khách hàng, vốn lưu động, nhân sự và mức lợi nhuận kỳ vọng sau khi trang trải chi phí.

Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh nhờ doanh nghiệp hiện hữu mở rộng công suất và triển khai các dự án lớn, trong khi nhiều doanh nghiệp nhỏ vẫn chưa tìm được điều kiện kinh doanh có lợi. GDP và vốn đầu tư tăng phản ánh quy mô hoạt động; số doanh nghiệp quay lại phản ánh thêm khả năng tiếp cận cơ hội của những chủ thể đang ở ngoài thị trường.

Giải thể tăng mạnh, nhưng sức ép rút lui không tăng đồng loạt

Số doanh nghiệp hoàn tất giải thể đạt 48.738, tăng 118,75%. Nếu nhìn riêng chỉ tiêu này, mức độ khó khăn có vẻ tăng đột biến. Tuy nhiên, số doanh nghiệp tạm ngừng có thời hạn giảm 9,74%, còn số chờ làm thủ tục giải thể giảm 37,01%.

Tổng ba nhóm đạt 172.018 doanh nghiệp, giảm khoảng 1,67% so với cùng kỳ. Cơ cấu rút lui thay đổi mạnh hơn tổng quy mô rút lui. Số hoàn tất giải thể tăng có thể chứa cả các hồ sơ tích tụ từ trước được xử lý trong kỳ, bên cạnh những trường hợp mới chấm dứt hoạt động.

Vấn đề nổi bật của 9 tháng vì thế nằm ở sức gia nhập và tái gia nhập yếu đi, đồng thời dòng rút lui chuyển mạnh sang hoàn tất giải thể. Hai diễn biến này làm giảm khả năng bổ sung và khôi phục lực lượng doanh nghiệp, ngay khi tổng hoạt động kinh tế đang mở rộng.

Tăng trưởng đang diễn ra chủ yếu ở đâu?

Đầu tư ngoài Nhà nước tăng 14% trong khi tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay lại giảm 3,20%, phù hợp với khả năng tăng trưởng đang dựa nhiều vào mở rộng hoạt động của những doanh nghiệp đã có vị thế trên thị trường. Các doanh nghiệp này có khách hàng, tài sản bảo đảm, năng lực quản lý và dòng tiền để triển khai đầu tư.

Doanh nghiệp mới và doanh nghiệp quay lại phải chịu chi phí khởi động, xây dựng khách hàng và tài trợ vốn lưu động trước khi có doanh thu ổn định. Khi chi phí đầu vào tăng và thời gian thu tiền kéo dài, cùng một cơ hội thị trường có thể tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp có quy mô nhưng chưa đủ hấp dẫn đối với doanh nghiệp nhỏ.

Sự phân hóa này cũng xuất hiện trong công nghiệp. Sản xuất chế biến, chế tạo tăng 12,93% trong 9 tháng, trong khi lao động tại doanh nghiệp của ngành ở thời điểm 1/9 chỉ tăng 3,58% so với cùng thời điểm năm trước. Một phần sản lượng tăng đang được đáp ứng bằng công suất, lao động và hệ thống tổ chức sẵn có.

Dữ liệu chưa xác định được mức độ tập trung vốn vào từng nhóm doanh nghiệp, nhưng cho thấy sức tăng của đầu tư không đi cùng sự mở rộng tương ứng của số chủ thể kinh doanh và tuyển dụng ban đầu.

Mở rộng cơ hội kinh doanh cần đi vào chi phí và dòng tiền

Để tăng trưởng lan rộng hơn, chính sách cần tác động trực tiếp đến những điều kiện quyết định doanh nghiệp có thể gia nhập, quay lại và duy trì hoạt động.

Thanh toán đúng hạn, hoàn thuế kịp thời và giảm thời gian xử lý thủ tục giúp giải phóng vốn đang bị giữ ngoài sản xuất. Tín dụng dựa trên hợp đồng, đơn hàng và dòng tiền có thể cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm. Kết nối với khách hàng lớn và chuỗi cung ứng giúp doanh nghiệp có đầu ra trước khi mở rộng đầu tư.

Với doanh nghiệp quay lại, tháo gỡ các nghĩa vụ và thủ tục còn tồn đọng cần đi cùng khả năng phục hồi hoạt động kinh doanh. Với doanh nghiệp mới, giảm chi phí tuân thủ ban đầu và tạo điều kiện tiếp cận thị trường sẽ có giá trị hơn việc chỉ thúc đẩy đăng ký thành lập.

Đầu tư tư nhân tăng là tín hiệu tích cực. Sức bền của động lực này sẽ lớn hơn khi cơ hội mở rộng sản xuất được tiếp cận bởi nhiều doanh nghiệp, tạo thêm việc làm và củng cố cạnh tranh. Những con số 9 tháng cho thấy dòng vốn đang vận động, còn độ rộng của sức bật doanh nghiệp vẫn là vấn đề cần tiếp tục giải quyết.