Trong kinh tế học, mọi quyết định, từ điều nhỏ bé trong đời sống mỗi người đến chính sách, chiến lược tầm quốc gia, đều chịu chi phối bởi hai loại chi phí nền tảng là chi phí cơ hội và chi phí giao dịch. Mặc dù những khái niệm này chủ yếu được trình bày trong các giáo trình kinh tế học, song tầm quan trọng của chúng lại vượt xa bình diện kinh tế, trở thành hai thước đo chất lượng của mọi hệ thống quản trị nhà nước và xã hội, mọi chính sách công và mọi cấu trúc thể chế. Điều thú vị là ngay cả những người chưa từng học kinh tế vẫn liên tục đối mặt với hai loại chi phí này hằng ngày, bởi chúng gắn với bản chất khan hiếm của nguồn lực và những rào cản trong tương tác xã hội. Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn cải cách thể chế sâu rộng, việc hiểu đúng và vận dụng đầy đủ hai khái niệm này có ý nghĩa sống còn đối với các nhà hoạch định và thực thi chính sách, bất kể ở cấp trung ương, địa phương hay chính quyền cơ sở.

Chi phí cơ hội

Khái niệm chi phí cơ hội (opportunity cost) có nền tảng sâu xa trong kinh tế học cổ điển và tân cổ điển, được hình thành từ tư tưởng sự đánh đổi (trade-off) của David Ricardo trong lý thuyết lợi thế so sánh (1817) và được hệ thống hóa rõ ràng hơn bởi các nhà kinh tế Áo như Friedrich von Wieser (1892), người đặt thuật ngữ opportunity cost vào kinh tế học hiện đại. Trong kinh tế học tân cổ điển, chi phí cơ hội trở thành nguyên lý phân bổ nguồn lực cốt lõi, thể hiện trong lý thuyết tối ưu của Vilfredo Pareto (1906) và tiếp tục được nhấn mạnh trong phân tích lựa chọn của Lionel Robbins (1932), người khẳng định kinh tế học là khoa học nghiên cứu hành vi con người trong điều kiện khan hiếm và đánh đổi. Từ nửa sau thế kỷ XX, các mô hình lựa chọn hợp lý, phúc lợi xã hội và kinh tế học thực chứng của Paul Samuelson, Gary Becker, và James Buchanan đều xem chi phí cơ hội là cấu phần bắt buộc trong quá trình ra quyết định. Những nghiên cứu này tạo nên nền tảng học thuật vững chắc để lý giải vì sao mọi quyết định trong nền kinh tế, đặc biệt là quyết định chính sách công, đều phải được đánh giá không chỉ theo lợi ích nhận được mà còn theo giá trị của phương án bị từ bỏ.

Để đơn giản, chúng ta có thể hiểu chi phí cơ hội (opportunity cost) là giá trị của phương án tốt nhất bị từ bỏ khi chúng ta đưa ra một quyết định. Dù không bao giờ xuất hiện trên bất kỳ hóa đơn hay báo cáo tài chính nào, chi phí cơ hội luôn tồn tại như phần ẩn của mọi lựa chọn. Người dân có thể không biết thuật ngữ này theo nghĩa kinh tế học, nhưng họ cảm nhận nó mỗi khi dành hai giờ lướt TikTok thay vì đọc sách, khi chọn cho con học năng khiếu thay vì ngoại ngữ, hay khi quyết định làm việc này mà không làm việc khác. Mỗi hành động đều kéo theo cái giá của điều ta không làm.

Một dạng chi phí cơ hội mang tính hệ thống thể hiện rõ trong tình trạng kẹt xe kéo dài của TP.HCM, và chính trải nghiệm thực tế của Bí thư Thành ủy Trần Lưu Quang cho thấy ý nghĩa sâu sắc của vấn đề này.[1] Việc một người đứng đầu Thành phố tự lái xe, hòa vào dòng giao thông đông đặc và mất tới hai giờ cho quãng đường chỉ 12 km cho thấy lãnh đạo trực tiếp cảm nhận cái giá mà người dân đang phải trả mỗi ngày, trải nghiệm sự lãng phí ấy bằng chính thời gian của mình. Tình huống này giúp làm ví dụ điển hình của chi phí cơ hội, đó là những giờ lao động bị mất đi, những cuộc hẹn bị trễ, năng suất bị suy giảm và sự mệt mỏi căng thẳng. Quan trọng hơn, trải nghiệm đó phản chiếu thực trạng mà hàng triệu người đang đối mặt, với tổng chi phí cơ hội được ước tính có thể lên đến hàng tỷ đô la mỗi năm nếu tính đủ thời gian lao động bị bào mòn, nhiên liệu lãng phí, đơn hàng bị bỏ lỡ và cơ hội đầu tư bị đánh mất. Kẹt xe, vì vậy, là một sự thất thoát vô hình nhưng vô cùng lớn đối với năng lực cạnh tranh và tương lai phát triển của thành phố.

Ở góc độ quốc gia, chi phí cơ hội trở nên lớn hơn nhiều vì các quyết định công ảnh hưởng tới hàng triệu người và tới cả triển vọng phát triển dài hạn. Ví dụ điển hình là một khu đất bị bỏ trống hoặc được sử dụng cho mục đích không tương xứng không chỉ làm mất đi giá trị kinh tế trực tiếp mà còn làm mất các tác động lan tỏa về cơ hội việc làm, nguồn thu ngân sách, mức sống người dân, và động lực tăng trưởng trong tương lai. Tương tự, nguồn ngân sách đổ vào các dự án ít hiệu quả sẽ làm mất cơ hội đầu tư vào hạ tầng trọng điểm, giáo dục, y tế, đổi mới sáng tạo hay những lĩnh vực có khả năng cải thiện năng suất quốc gia. Ngay cả việc chậm trễ trong xử lý thủ tục hành chính cũng tạo ra chi phí cơ hội, một văn bản bị trì hoãn có thể khiến doanh nghiệp bỏ lỡ hợp đồng, dòng vốn đầu tư nản lòng và chuyển sang địa phương khác hoặc quốc gia khác.

Một biểu hiện điển hình của chi phí cơ hội ở Việt Nam là cách quy hoạch và phân loại đất đai. Nhiều khu vực có vị trí đắc địa, gần quốc lộ, khu công nghiệp, trung tâm đô thị lại bị ghi nhận trên giấy chứng nhận sử dụng đất hay bản quy hoạch là “đất trồng lúa” hay “đất trồng cây lâu năm”. Những quyết định mang tính chủ quan, hoặc tư duy giữ bằng được chỉ tiêu đất lúa bất chấp hiệu quả kinh tế – xã hội, đã khóa chặt tiềm năng phát triển của cả người dân lẫn địa phương. Một khi đất bị trói buộc bởi quy hoạch lỗi thời và thiển cận thì người dân không thể chuyển mục đích sử dụng đất, không được cấp phép xây dựng, không thể thế chấp vay vốn, không thể hợp tác với doanh nghiệp hay tham gia vào chuỗi giá trị có năng suất cao hơn. Nguồn lực đất đai khan hiếm và quý giá lại bị đặt vào thế “đắp chiếu” ngay giữa trung tâm các đô thị phát triển không những đã ảnh hưởng đến đời sống và quyền lợi người dân mà còn lấy mất cơ hội làm giàu và đóng góp vào sự tăng trưởng của đất nước.

Chi phí cơ hội trong những trường hợp này là khổng lồ. Một hecta đất lúa ven đô chỉ tạo ra vài chục triệu đồng mỗi năm, trong khi nếu được chuyển sang thương mại, dịch vụ hay công nghiệp, giá trị có thể tăng gấp hàng chục hoặc hàng trăm lần. Vùng ven TP.HCM, Hà Nội, Đồng Nai… là minh chứng rõ nhất. Ở đây rất nhiều hộ dân sở hữu đất nằm cạnh đường lớn hoặc khu công nghiệp nhưng bị trói tay bởi tư duy quy hoạch cũ và tầm nhìn thiển cận, khiến họ người dân lỡ cơ hội cải thiện sinh kế của mình, trong khi nhà nước thì lại luôn khuyên người dân hãy nỗ lực làm giàu. Chính quyền địa phương cũng đồng thời nguồn thu thuế tiềm năng, mất cơ hội tạo việc làm và mất động lực tăng trưởng kinh tế… Đó chính là cái giá rất lớn của sự chậm thay đổi.

Trái lại, những địa phương dám tháo gỡ các ràng buộc và cập nhật quy hoạch theo hướng khai thác đúng tiềm năng của đất đai lại có bước tiến ngoạn mục. Bình Dương giai đoạn 1990 – 2000 là ví dụ kinh điển. Nếu Bình Dương vẫn giữ tư duy đất lúa thì có lẽ đã không thể hình thành các khu công nghiệp Sóng Thần, VSIP hay Mỹ Phước như ngày nay. Đây là những nền tảng đã giúp Bình Dương từ một tỉnh nông nghiệp trở thành trung tâm công nghiệp lớn nhất cả nước. Điều đó cho thấy chi phí cơ hội của một quyết định quy hoạch sai không chỉ đo bằng tiền mà là sự đánh mất cơ hội phát triển của cả thế hệ sau.

Vì vậy, một quy hoạch chỉ thực sự hiệu quả khi dựa trên phân tích lợi ích – chi phí (CBA), phải phản ánh đúng tiềm năng kinh tế – xã hội của đất đai và được cập nhật theo sự vận động của nền kinh tế vốn thay đổi rất nhanh hiện nay. Nếu không, chi phí cơ hội sẽ lan rộng từ từng hộ dân đến toàn bộ quốc gia, mất nguồn lực sản xuất, mất việc làm, mất đầu tư tư nhân, mất cơ hội đô thị hóa chất lượng cao và mất cả động lực phát triển dài hạn. Với ý nghĩa đó, chi phí cơ hội có thể xem là thước đo năng lực quản trị và khả năng phân bổ nguồn lực của một địa phương hay một quốc gia đang phát triển như Việt Nam.

Chi phí giao dịch

Khái niệm chi phí giao dịch gắn liền với sự phát triển của kinh tế học thể chế hiện đại và có nguồn gốc từ các nghiên cứu kinh điển của Ronald Coase trong The Nature of the Firm (1937) và The Problem of Social Cost (1960). Coase chỉ ra rằng thị trường không thể vận hành trong điều kiện ma sát bằng không, bởi mỗi giao dịch đều đòi hỏi chi phí tìm kiếm thông tin, thương lượng, ký kết và giám sát hợp đồng. Những lập luận này sau đó được mở rộng bởi Oliver Williamson trong Markets and Hierarchies (1975) và The Economic Institutions of Capitalism (1985), ở đó ông phát triển lý thuyết chi phí giao dịch như một nền tảng để giải thích cấu trúc doanh nghiệp, cơ chế quản trị và sự lựa chọn giữa thị trường, doanh nghiệp và mạng lưới. Douglass North (1990) tiếp tục nhấn mạnh vai trò của chi phí giao dịch trong sự phát triển kinh tế dài hạn, coi thể chế là luật chơi giúp giảm bất định và giảm chi phí thực hiện giao dịch. Sự kết hợp giữa Coase, Williamson và North đã xác lập chi phí giao dịch như một trụ cột lý thuyết quan trọng để hiểu hiệu quả thị trường, năng lực cạnh tranh và chất lượng quản trị nhà nước, đặc biệt trong bối cảnh các nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển.

Chúng ta có thể hiểu chi phí giao dịch (transaction cost) là phần chi phí phát sinh trong quá trình biến một lựa chọn thành hiện thực. Nếu chi phí cơ hội là giá của điều ta không chọn thì chi phí giao dịch là giá của việc ta cố gắng thực hiện điều mình đã chọn. Nó bao gồm toàn bộ các khoản chi để một giao dịch diễn ra, từ việc tìm kiếm thông tin, đàm phán, ký kết hợp đồng, giám sát thực thi cho đến xử lý tranh chấp, tuân thủ pháp lý và đối phó với rủi ro gian lận hay thiếu minh bạch. Coase (1937) từng khẳng định rằng không có thị trường nào vận hành miễn phí, mọi tương tác kinh tế đều bị phủ lên bởi một lớp ma sát vô hình mang tên chi phí giao dịch. Chính lớp ma sát này giải thích vì sao những lựa chọn hợp lý trên lý thuyết lại trở nên tốn kém, phức tạp và đôi khi bất khả thi trong thực tế.

Trong đời sống thường ngày, người dân cảm nhận chi phí giao dịch ở những trải nghiệm rất cụ thể. Một thủ tục hành chính tưởng như đơn giản nhưng đòi hỏi xếp hàng, điền biểu mẫu giấy, xin chữ ký nhiều cấp khiến thời gian bị kéo dài và hiệu quả bị bào mòn. Một lần đi khám bệnh phải trải qua nhiều cửa, nhiều khâu xác nhận, khiến quá trình điều trị bị trì hoãn và chi phí tăng thêm. Khi mua bán bất động sản, người dân phải tìm kiếm thông tin quy hoạch từ nhiều nguồn khác nhau, văn bản thiếu minh bạch khiến họ phải nhờ đến môi giới hoặc người quen, làm giao dịch phức tạp và rủi ro hơn. Ngay cả việc mua hàng online cũng không tránh khỏi chi phí giao dịch như người mua phải kiểm tra kỹ, phòng ngừa gian lận, đổi trả nhiều lần, và tốn thời gian xác minh… Tất cả đều là những chi phí không tạo ra giá trị thực nhưng không thể tránh khỏi.

Với doanh nghiệp, chi phí giao dịch trở nên nặng nề hơn vì chúng tác động trực tiếp đến năng suất và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Một doanh nghiệp nhỏ muốn vay vốn phải chuẩn bị nhiều bộ hồ sơ khác nhau cho từng bộ phận thẩm định, dẫn đến thời gian chờ đợi kéo dài và chi phí cơ hội tăng cao. Một nhà đầu tư nước ngoài muốn tham gia thị trường Việt Nam thường phải thuê luật sư, tổ chức tư vấn, môi giới và kiểm toán chỉ để hiểu được hệ thống pháp lý mà đáng lẽ phải được cung cấp minh bạch và nhất quán. Khi pháp luật thay đổi đột ngột hoặc chồng chéo, doanh nghiệp lại phải bỏ thêm chi phí điều chỉnh, đào tạo lại nhân sự và chịu rủi ro hợp đồng không còn phù hợp. Những chi phí này không mang lại sản phẩm mới hay dịch vụ tốt hơn, nhưng lại ngốn phần lớn nguồn lực của doanh nghiệp.

Trong khu vực công, chi phí giao dịch bộc lộ rõ nhất qua bộ máy thủ tục hành chính. Mỗi bước trung gian không cần thiết, mỗi giấy tờ trùng lặp giữa các cơ quan, mỗi xác nhận mang tính hình thức nhưng không có giá trị pháp lý thực chất đều làm tăng chi phí giao dịch của cả xã hội. Với cơ chế xin – cho, người dân và doanh nghiệp buộc phải bỏ thêm thời gian, công sức và đôi khi cả rủi ro để “xin” được điều mà lẽ ra phải là quyền hợp pháp của họ. Như Tổng Bí thư Tô Lâm từng nói, không được để người dân phải xin những thứ mà đáng lẽ họ được hưởng.[2] Chính tư duy làm gì cũng muốn quản đã ngấm vào từng thiết kế chính sách, khiến người dân phải xin những thứ vốn dĩ thuộc về họ. Tương tự, một khi các quy định không ổn định, thiếu nhất quán và khó dự báo, các doanh nghiệp sẽ chịu chi phí giao dịch lớn nhất vì phải bỏ chi phí để thích ứng trong sự bất định.

Chi phí giao dịch cũng len lỏi vào nhiều lĩnh vực tưởng như không liên quan. Chẳng hạn như trong giáo dục, tuyển sinh nhiều tầng nấc, thủ tục mở ngành kéo dài, giáo viên bị buộc làm quá nhiều báo cáo đã tạo ra một hệ thống vận hành chậm chạp và tốn kém. Trong y tế, quy trình phê duyệt thiết bị, thuốc men kéo dài khiến bệnh viện lâm vào tình trạng thiếu vật tư, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân. Trong quản lý đô thị và đầu tư công, những thủ tục kéo dài làm chậm tiến độ dự án, đội vốn, làm mất niềm tin của nhà đầu tư và giảm năng lực cạnh tranh của địa phương. Một dự án metro chậm thêm một năm không chỉ đội vốn mà còn khiến hàng triệu giờ đi lại của người dân bị lãng phí. Ngay cả trong xử phạt giao thông, việc buộc người dân phải đi lại nhiều lần để nộp phạt, giải trình hoặc bổ sung giấy tờ, cung cấp bằng chứng… cũng tạo ra chi phí giao dịch không cần thiết, làm tăng gánh nặng cho cả người dân lẫn bộ máy công quyền.

Nhìn tổng thể, chi phí giao dịch là thứ làm ma sát hóa toàn bộ nền kinh tế. Nó không tạo ra bất kỳ giá trị gia tăng nào nhưng lại hút cạn nguồn lực, làm chậm tốc độ phát triển và bào mòn năng suất. Một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững phải tìm cách giảm tối đa loại chi phí vô hình nhưng đầy quyền lực này bằng cách xây dựng thể chế minh bạch, pháp luật nhất quán, thủ tục gọn nhẹ, dữ liệu liên thông và một môi trường xã hội đặt niềm tin làm nền tảng. Chính vì vậy, nhà nước phải tìm cách giảm chi phí giao dịch xuống mức thấp nhất, khi ấy nền kinh tế mới có thể vận hành trơn tru, doanh nghiệp mới có thể cạnh tranh và người dân mới có thể tận hưởng lợi ích của tăng trưởng.

Mối quan hệ giữa chi phí cơ hội và chi phí giao dịch

Giữa chi phí cơ hội và chi phí giao dịch tồn tại mối quan hệ hữu cơ. Khi chi phí giao dịch cao, chi phí cơ hội của xã hội tăng theo cấp số nhân. Một dự án bị trì hoãn 12 tháng không chỉ mất thêm chi phí tài chính mà còn làm mất cơ hội tăng trưởng, mất hàng nghìn việc làm và làm suy giảm niềm tin của thị trường. Ngược lại, khi cải cách thể chế giúp giảm chi phí giao dịch, xã hội sẽ tự động tối ưu hóa chi phí cơ hội, nguồn lực được phân bổ vào nơi có năng suất cao nhất, đầu tư công được sử dụng hiệu quả hơn và nền kinh tế vận hành trơn tru hơn.

Đối với Việt Nam, hàm ý chính sách từ hai loại chi phí này đặc biệt quan trọng vì chúng liên quan trực tiếp đến hiệu quả phân bổ nguồn lực quốc gia. Trước hết, phân tích chi phí cơ hội cần trở thành nguyên tắc bắt buộc trong mọi quyết định đầu tư công. Mỗi dự án sử dụng đất phải được xem xét không chỉ theo nhu cầu trước mắt mà trên cơ sở giá trị sử dụng tối ưu trong dài hạn, bao gồm cả tác động lan tỏa, năng suất tạo ra và khả năng thúc đẩy phát triển bền vững. Điều này càng cấp thiết tại các đô thị lớn như TP.HCM, Hà Nội, Đồng Nai và nhiều địa phương khác, ở đó đất đai là nguồn lực khan hiếm, mỗi tấc đất đều phải được cân nhắc thận trọng giữa chức năng công cộng, thương mại, giáo dục, y tế và không gian xanh, thay vì để bỏ trống, sử dụng kém hiệu quả hoặc bị “đắp chiếu” trong các quy hoạch thiển cận. Trong phân bổ ngân sách, các lựa chọn chi tiêu phải được soi chiếu bằng câu hỏi nền tảng là nếu làm dự án này thì ta đang từ bỏ dự án hay cơ hội nào khác có giá trị cao hơn không?

Bên cạnh đó, ở cấp hệ thống, việc cải cách hành chính và số hóa dịch vụ công phải hướng trực tiếp tới mục tiêu giảm chi phí giao dịch cho người dân và doanh nghiệp. Điều này yêu cầu chuẩn hóa quy trình, minh bạch hóa dữ liệu, loại bỏ các thủ tục trùng lặp, thống nhất yêu cầu giữa các cơ quan và vận hành cơ chế một cửa theo đúng nghĩa. Không chấp nhận kiểu thiết kế hệ thống mà ở đó tùy tiện buộc người dân phải đi lại nhiều, cung cấp nhiều tài liệu chứng minh thay vì chỉ cần nộp thông tin một lần và giao dịch được xử lý trọn vẹn trong cùng một hệ thống.

Trong giáo dục và y tế, giảm chi phí giao dịch đòi hỏi tích hợp dữ liệu, số hóa quy trình khám chữa bệnh và tuyển sinh, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm. Trong lĩnh vực kinh tế, cần tạo môi trường pháp lý ổn định, dự báo được, tăng hiệu lực thực thi hợp đồng và củng cố lòng tin nhà đầu tư thông qua minh bạch, trách nhiệm giải trình và hệ thống tư pháp hiệu quả hơn. Quan trọng nhất, việc giảm chi phí giao dịch không thể chỉ đơn thuần là sửa quy trình hay cải cách vài tiêu chí kỹ thuật mà phải gắn với mục tiêu nâng cao chất lượng thể chế, quản trị công, kiểm soát quyền lực và tạo dựng lòng tin xã hội.

Cuối cùng, bài học lớn nhất mà kinh tế học mang lại là một xã hội chỉ có thể phát triển nhanh và bền vững khi biết đo lường, nhìn thấu và quản lý tốt những chi phí vô hình. Chi phí cơ hội và chi phí giao dịch là hai thước đo phản ánh tính hiệu quả của cả hệ thống, từ hiệu năng của bộ máy hành chính đến hiệu quả của thị trường. Trong tiến trình phát triển hiện nay, Chính phủ phải giảm triệt để những chi phí vô hình đang bào mòn năng suất và làm chậm lại mọi nỗ lực cải cách. Xã hội càng minh bạch, thể chế càng hiệu quả, niềm tin càng cao thì chi phí giao dịch càng thấp, chi phí cơ hội càng được tối ưu và nguồn lực quốc gia sẽ được phân bổ vào nơi tạo ra giá trị lớn nhất.

Một số hàm ý cải cách

Để hai loại chi phí vô hình này không âm thầm bào mòn năng suất xã hội, Việt Nam cần nhìn nhận việc giảm chi phí cơ hội và chi phí giao dịch như một trong những trụ cột của cải cách thể chế, tương đương với cải cách pháp luật, cải cách bộ máy hay nâng cao năng lực cán bộ. Giảm hai loại chi phí này không phải chỉ là khẩu hiệu mà là quá trình tái cấu trúc toàn bộ cách Nhà nước thiết kế, tổ chức và vận hành chính sách.

Trước hết, trong thiết kế chính sách, việc lượng hóa và đánh giá chi phí cơ hội cần trở thành một thủ tục bắt buộc. Khi một bộ ngành ở cấp trung ương hay sở ngành ở cấp địa phương đề xuất một chương trình, dự án mới, phải đặt câu hỏi nếu làm theo phương án này, xã hội đang từ bỏ cơ hội gì? Những lợi ích bị bỏ qua có lớn hơn lợi ích kỳ vọng của dự án? Ví dụ, khi một địa phương cân nhắc sử dụng quỹ đất trung tâm cho một công trình hành chính, việc tính toán chi phí cơ hội của không gian có thể dùng cho công viên, trường học hoặc trung tâm thương mại hiện đại sẽ giúp tránh các quyết định sai lầm kéo dài hàng thập niên. Trong lĩnh vực đầu tư công, thay vì tập trung vào tổng mức đầu tư, cơ quan chức năng phải so sánh tác động dài hạn của từng đồng ngân sách giữa các phương án khác nhau, nhất là giữa những dự án mang tầm vóc chiến lược như hạ tầng số, đổi mới sáng tạo và giáo dục… Cần lưu ý rằng, lợi ích của dự án không chỉ đo bằng thước đo tài chính mà còn đo bằng thước đo kinh tế, xã hội. Đối với những dự án đầu tư công thì thước đo kinh tế và xã hội phải được đặt lên trên và tất cả đều có thể được lượng hóa bằng các mô hình kinh tế, xã hội cả chứ không cảm tính.

Trong thực thi chính sách, việc giảm chi phí cơ hội còn gắn với tốc độ và sự nhất quán của bộ máy hành chính. Mỗi ngày chậm trễ trong cấp phép xây dựng, phê duyệt đầu tư hay giải ngân vốn đều là chi phí cơ hội của hàng nghìn lao động, của doanh nghiệp, của địa phương và của nền kinh tế. Vì vậy, một chính quyền hiện đại cần đặt mục tiêu giảm thiểu tối đa sự chậm trễ bằng cách chuẩn hóa quy trình, ứng dụng công nghệ, minh bạch hóa thông tin và xác lập rõ trách nhiệm cá nhân trong từng khâu, từng bước, từng thủ tục.

Về chi phí giao dịch, điều cốt lõi là chính sách phải được thiết kế hướng tới nguyên tắc giảm số bước, giảm sự không chắc chắn và giảm tiếp xúc trực tiếp giữa người dân, doanh nghiệp và cơ quan công quyền. Khi ban hành quy định mới mà lại làm tăng số thủ tục, tăng yêu cầu xác nhận, hoặc tạo ra không gian tùy tiện cho cán bộ thì nguy cơ làm tăng chi phí giao dịch và làm suy yếu lòng tin xã hội là không thể tránh khỏi. Vì vậy, mọi chính sách trước khi ban hành cần đánh giá tác động lên chi phí giao dịch của xã hội, cần đặt các câu hỏi như quy định này có làm tăng chi phí tìm kiếm thông tin không, có làm tăng chi phí tuân thủ của doanh nghiệp không, có làm tăng chi phí rủi ro do thiếu rõ ràng về pháp lý không…

Chi phí giao dịch cũng gắn chặt với chất lượng của môi trường pháp lý và thể chế thực thi hợp đồng. Trong bối cảnh Việt Nam muốn thu hút nhà đầu tư chiến lược, muốn xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, hay muốn phát triển các ngành công nghệ cao, việc giảm chi phí giao dịch đòi hỏi tòa án phải hoạt động hiệu quả hơn, thủ tục giải quyết tranh chấp phải nhanh gọn hơn, hợp đồng điện tử được pháp lý bảo vệ mạnh hơn và dữ liệu phải minh bạch hơn. Một tập đoàn nước ngoài sẵn sàng đầu tư vào Việt Nam không chỉ vì Việt Nam có ưu đãi thuế mà vì chi phí giao dịch thấp, khả năng dự báo tốt và môi trường pháp lý đáng tin cậy. Chính vì vậy, cải cách tư pháp, nâng cao tính minh bạch chính sách và ngân sách… là các điều kiện để giảm chi phí giao dịch một cách có hệ thống và hiệu quả.

Trong các dịch vụ công như giáo dục và y tế, giảm chi phí giao dịch phải trở thành nguyên tắc vận hành. Theo đó, cần phải cải cách sao cho người dân có thể khám bệnh không cần giấy tờ thông qua mã định danh, học sinh chuyển trường không phải chạy hồ sơ qua nhiều cơ quan, việc cấp phép mở ngành đại học được đơn giản hóa. Việc đưa dữ liệu dân cư, đất đai, y tế, giáo dục vào một hệ thống dữ liệu tích hợp cũng sẽ giúp cắt giảm một lượng chi phí giao dịch khổng lồ cho 100 triệu người dân.

Cũng cần nhấn mạnh rằng chi phí giao dịch không chỉ đến từ thủ tục mà đến từ lòng tin. Một khi lòng tin xã hội thấp thì mọi giao dịch đều trở nên đắt đỏ, khi đó doanh nghiệp phải thẩm định lại nhiều lần, người dân phải xin thêm xác nhận, nhà đầu tư phải cộng thêm phí bù rủi ro vào. Vì vậy, nâng cao lòng tin bằng minh bạch hóa thông tin, trách nhiệm giải trình và chống tham nhũng mới là quốc sách lâu bền để nhằm giảm chi phí giao dịch một cách căn cơ và bền vững.

Tóm lại, hàm ý lớn nhất cho Việt Nam là trong mọi thiết kế và thực thi chính sách, Nhà nước phải xem người dân và doanh nghiệp là những chủ thể có chi phí cơ hội và chi phí giao dịch thực sự. Nếu một chính sách tốt về mục tiêu nhưng làm tăng chi phí tuân thủ, làm giảm tốc độ giao dịch, hoặc làm mất đi cơ hội của những tác nhân thị trường thì chính sách đó về tổng thể gây thiệt hại cho xã hội. Một nhà hoạch định chính sách giỏi không chỉ thiết kế chính sách đúng mà còn phải thiết kế chính sách với chi phí cơ hội thấp nhất và chi phí giao dịch nhỏ nhất cho người dân và doanh nghiệp.

Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới càng cần một triết lý quản trị lấy giảm chi phí cơ hội và chi phí giao dịch làm kim chỉ nam. Từ cải cách hành chính đến số hóa dịch vụ công, từ phân cấp, phân quyền đến phân bổ ngân sách, từ cải cách tư pháp đến xây dựng trung tâm tài chính quốc tế, v.v… tất cả đều phải hướng đến tối ưu hóa hai loại chi phí vô hình này. Một khi chi phí giao dịch giảm, chi phí cơ hội được tối ưu thì nguồn lực của xã hội sẽ được cởi trói và hướng vào nơi có năng suất cao nhất. Đó chính là nền tảng sâu xa để Việt Nam đạt được tăng trưởng nhanh, bền vững và chất lượng trong thập niên tới./.

 

[1] https://dantri.com.vn/thoi-su/bi-thu-tran-luu-quang-ke-trai-nghiem-lai-xe-12km-mat-2-gio-o-tphcm-20251117162812102.htm

[2] https://vnexpress.net/tong-bi-thu-khong-de-nguoi-dan-phai-xin-nhung-thu-ho-duoc-huong-4959803.html