Trong vài năm trở lại đây, mạng xã hội Việt Nam chứng kiến sự trỗi dậy của một hiện tượng đặc biệt, đó là sự xuất hiện dày đặc của những cá nhân nói năng lưu loát, đầy tự tin, thường xuyên bình luận về chính trị, kinh tế, giáo dục, y tế, triết học hay bất cứ chủ đề nào đang hot. Ta có thể gọi đây là những “giáo sư mạng”. Họ không phải là những nhà nghiên cứu, học giả, giảng viên hay chuyên gia được đào tạo bài bản mà phần lớn họ chỉ là người biết cách diễn đạt khéo léo, hiểu sơ sơ một số khái niệm, sưu tầm vài thông tin rời rạc, sau đó biến tấu thành những mẩu kiến thức đóng gói theo dạng kết luận chắc nịch.

Thuật toán mạng xã hội vốn ưu tiên những nội dung gây cảm xúc mạnh đã vô tình biến họ thành người dẫn dắt dư luận một cách vô tình hoặc đôi khi là cố ý để câu view, câu like hoặc thậm chí là trục lợi.

Hiện tượng này không xuất hiện trong khoảng không trung lập. Đây là sản phẩm của sự kết hợp giữa nhu cầu tri thức “ăn liền” của công chúng, khoảng trống về giáo dục tư duy phản biện và một cơ chế truyền thông mới mà nghiên cứu của Vosoughi, Roy và Aral (MIT, 2018) đã mô tả, đó là những thông tin gây sốc, giật gân có tốc độ lan truyền nhanh gấp nhiều lần thông tin đúng sự thật.

Trong khi tri thức khoa học luôn đi kèm các điều kiện, giả định, những yêu cầu về dữ liệu và đòi hỏi sự khiêm tốn trí tuệ, thì “giáo sư mạng” lại không bao giờ bận tâm đến điều đó. Họ nói nhanh, nói mạnh, nói đơn giản, nói như thể đang phát hiện ra chân lý. Trong môi trường công nghệ, ở đó thuật toán thiên về cho sự cực đoan và tự tin hơn là sự chính xác, những tiếng nói ấy lập tức được khuếch đại và chiếm lĩnh không gian mạng.

Hiệu ứng Dunning-Kruger (Kruger và Dunning, 1999) cho thấy những người có hiểu biết hạn chế thường đánh giá quá cao năng lực của chính mình, bởi họ thiếu chính năng lực để nhận ra những lỗ hổng trong hiểu biết. Điều đó khiến nhiều người “biết ít tưởng biết nhiều” và họ càng tự tin bao nhiêu thì càng thành công trên mạng xã hội bấy nhiêu.

Một cá nhân chỉ hiểu mơ hồ về cung – cầu cũng có thể nói như chuyên gia kinh tế; một người từng học trung bình yếu có thể đứng trước máy quay để giảng giải về giáo dục; một tài khoản ẩn danh có thể dùng vài bài báo mạng để kết luận về chính trị quốc tế. Bên dưới những phát ngôn chắc nịch ấy là ảo giác tri thức, tức là một ảo giác được đẩy lên cực đại nhờ sự tán thưởng của đám đông.

Không gian mạng còn nuôi dưỡng hiện tượng này bằng thứ mà John Suler, trong công trình kinh điển “Online Disinhibition Effect” (2004), mô tả là sự “mất kiểm soát trực tuyến”. Đây là hiện tượng khi một người ẩn danh, không phải đối diện với người khác, không thấy phản ứng trực tiếp, họ dễ nói những điều mà ngoài đời không dám nói.

Tính ẩn danh khiến một người bình thường, đôi khi nhút nhát, bỗng trở thành thẩm phán trên mạng, sẵn sàng phán xét người khác bằng giọng điệu gay gắt, cực đoan, thậm chí miệt thị. Đây là môi trường lý tưởng cho “giáo sư mạng”, vừa không phải chịu trách nhiệm, vừa dễ được tung hô, vừa dễ trở thành trung tâm của những phiên tòa dư luận mà họ làm chủ tọa.

Nguy hiểm hơn cả là sự hình thành một văn hóa phán xét đúng – sai theo kiểu vội vã, giản đơn, chỉ cần một kết luận dứt khoát là xem như giải quyết xong vấn đề. Nhiều người chưa từng đối diện với vấn đề trong thực tiễn, chưa từng nghiên cứu một cách nghiêm túc, thậm chí ngày xưa học hành không có gì đặc biệt, nhưng nhờ giọng điệu chắc nịch và vài câu triết lý hóa mọi vấn đề, họ dễ dàng trở thành “người cầm cân nảy mực” trong các cuộc thảo luận trên mạng.

Chỉ cần một ai đó viết ra một quan điểm trái chiều, lập tức sẽ xuất hiện hàng chục bình luận kiểu như “nói bậy”, “sai rồi”, “không biết gì cũng đòi phát biểu”, “ông này dốt”, “chị kia ngu”,… Những phán xét này không dựa trên dữ liệu, không dựa trên lập luận mà chủ yếu dựa trên cảm xúc, thành kiến và tâm lý bầy đàn.

Tác hại của hiện tượng này đối với từng cá nhân là hoàn toàn có thật chứ không chỉ dừng lại ở cảm giác buồn tức thời. Các nghiên cứu về bạo lực mạng (cyberbullying) trên thế giới, chỉ ra rằng các nạn nhân bị tấn công bằng lời nói trên mạng thường đối diện với nguy cơ cao hơn về trầm cảm, lo âu, mất tự tin, rối loạn giấc ngủ và thậm chí có ý nghĩ tự tử (Kowalski, Limber et al, 2022). Không phải ai cũng có sức mạnh tinh thần để vượt qua hàng trăm bình luận xúc phạm, hạ nhục, gán nhãn.

Không ít người đã chia sẻ rằng chỉ sau một đợt bị ném đá tập thể, họ rơi vào trạng thái u uất kéo dài, mất động lực làm việc, sợ tương tác xã hội, thậm chí không dám bước ra ngoài hay phát biểu ý kiến nữa. Về lâu dài, trong một xã hội ở đó con người có thể bị soi xét và kết luận tập thể chỉ dựa trên những bằng chứng hời hợt và giản đơn, những người có tri thức thực sự và những tiếng nói có trách nhiệm sẽ dần thu mình và rời khỏi không gian đối thoại mạng.

Không gian mạng khi đó chỉ còn lại những người giỏi nói hơn là giỏi biết. Đây chính là hiện tượng mà Cass Sunstein từng cảnh báo trong các nghiên cứu về “buồng vang thông tin” (echo chambers) và “cực đoan hóa trong nhóm” (group polarization), nghĩa là khi con người tụ tập trong những cộng đồng chỉ chứa một kiểu quan điểm, họ có xu hướng trở nên cực đoan hơn, tự tin hơn và sẵn sàng phán xét gay gắt hơn đối với bất kỳ ý kiến trái chiều nào.

Trên Facebook hay TikTok, chỉ cần một “giáo sư mạng” A đưa ra một phát biểu, lập tức một cộng đồng hàng ngàn người theo dõi sẽ đổ dồn vào tấn công bất kỳ ai dám phản biện. Một khi sự hung hăng tập thể lấn át lý lẽ, không gian mạng trở nên nghèo nàn; các quan điểm khoa học, thận trọng và dựa trên bằng chứng bị nhấn chìm bởi tiếng ồn ào cảm tính của đám đông.

Hậu quả của vấn đề này đối với việc hình thành chính sách là không nhỏ. Trong môi trường mà cảm xúc được ưu tiên hơn lý trí, những chính sách dựa trên dữ liệu và bằng chứng có thể bị xuyên tạc hoặc phản đối mạnh mẽ chỉ vì không hợp cảm xúc đám đông. Đã có những ví dụ rất rõ trên thế giới về vấn đề này, chẳng hạn như các chiến dịch tẩy chay vaccine dựa trên thông tin sai lệch khiến tỷ lệ tiêm chủng giảm mạnh ở nhiều quốc gia; hay các chính sách về môi trường bị phản ứng gay gắt vì bị “giáo sư mạng” diễn giải sai bản chất; hay các biện pháp kinh tế bị hiểu lầm thành tăng thu, giảm chi cho dân nghèo dù thực tế hoàn toàn ngược lại. Việt Nam cũng đã chứng kiến nhiều trường hợp tương tự trong giai đoạn dịch Covid-19 khi một số cá nhân không có chuyên môn y tế nhưng lại nói như chuyên gia đầu ngành, khiến người dân hoang mang hoặc hiểu sai chính sách phòng dịch.

Khó khăn lớn nhất là phần đông công chúng không phân biệt được đâu là tri thức, đâu là niềm tin, đâu là suy đoán. Một video dài 3 phút nói chuyện mạch lạc, có vẻ hợp lý, được quay đẹp, lồng nhạc căng thẳng, dễ tạo ảo giác rằng người nói là chuyên gia. Điều này đối lập hoàn toàn với cách tri thức được tạo ra trong môi trường khoa học vốn đòi hỏi thử nghiệm, chứng minh, phản biện, chỉnh sửa và thẩm định học thuật (peer-review). Thế nhưng mạng xã hội lại làm đảo lộn hệ thống đánh giá này. Người được tôn trọng không phải là người có hiểu biết, nghiên cứu mà là người có tài ăn nói và khả năng nói to.

Trước bối cảnh đó, giải pháp không phải là ngăn cản người dân chia sẻ quan điểm. Điều quan trọng là xây dựng một nền văn hóa tranh luận lành mạnh hơn, ở đó mỗi ý kiến được phản biện bằng lý lẽ và bằng chứng chứ không phải bằng xúc phạm hay phán xét chủ quan. Cần thúc đẩy giáo dục về tư duy phản biện, khoa học dữ liệu và kỹ năng kiểm chứng thông tin ngay từ trường phổ thông.

Cần tạo không gian cho các nhà khoa học, giảng viên, chuyên gia thực sự, những người có nền tảng tri thức xuất hiện mạnh mẽ hơn trên nền tảng số. Và quan trọng hơn hết, cần khuyến khích mô hình khoa học đại chúng (popular science) nghiêm túc, tức là những người có học thuật thật nhưng biết cách giải thích dễ hiểu, dùng ngôn ngữ phù hợp với giới trẻ, để tri thức chính xác có thể cạnh tranh được với sự đơn giản hóa nguy hiểm của “giáo sư mạng”.

Tóm lại, hiện tượng “giáo sư mạng” là một thách thức thực sự đối với văn hóa tri thức của xã hội hiện nay. Nó cho thấy chúng ta đang sống trong một thế giới ở đó tự tin đôi khi quan trọng hơn đúng sai, cảm xúc thống trị lý trí, và những người ít biết nhất có khi lại nói lớn tiếng nhất. Nếu không tìm cách tái lập cân bằng giữa cảm xúc và lý tính, giữa thuật toán và tri thức, giữa tự do biểu đạt và trách nhiệm phát ngôn, xã hội sẽ rất dễ trượt vào tình trạng tiếng nói cực đoan và nông cạn lấn át tiếng nói khoa học, trở thành bát nháo/.